luật về nhượng quyền thương mại, Những điểm nổi bật trong mối quan hệ giữa pháp luật về nhượng quyền thương mại và pháp luật về sở hữu trí tuệ tại Việt Nam, mối quan hệ giữa pháp luật về nhượng quyền thương mại và pháp luật về sở hữu trí tuệ tại Việt Nam, Luật nhượng quyền thương mại tại Việt Nam, Hợp đồng nhượng quyền thương mại, nhượng quyền thương mại tại Việt Nam, nhượng quyền thương mại và sở hữu trí tuệ, nhượng quyền thương mại, sở hữu trí tuệ, mối quan hệ nhượng quyền thương mại và sở hữu trí tuệ, sở hữu trí tuệ, nhượng quyền thương mại

Những điểm nổi bật trong mối quan hệ giữa pháp luật về nhượng quyền thương mại và pháp luật về sở hữu trí tuệ tại Việt Nam

Tóm tắt

Cùng với sự phát triển của hoạt động nhượng quyền thương mại tại Việt Nam trong khoảng gần 20 năm vừa qua, khung pháp lý để điều chỉnh hoạt động này cũng được xây dựng và ngày càng hoàn thiện hơn. Xuất phát từ vai trò xương sống của quyền sở hữu trí tuệ trong nội hàm khái niệm quyền thương mại, pháp luật về nhượng quyền thương mại và pháp luật sở hữu trí tuệ có mối quan hệ vô cùng mật thiết, hỗ trợ lẫn nhau. Tuy nhiên, pháp luật điều chỉnh quyền sở hữu trí tuệ trong hoạt động nhượng quyền thương mại nói chung hiện nay vẫn còn bỏ ngỏ, chưa có những quy định riêng để điều chỉnh cho phù hợp hoặc vẫn còn tồn tại các quy định mâu thuẫn, chồng chéo, chưa tính đến những đặc thù quan trọng là bản chất của hoạt động nhượng quyền thương mại. Đây là một trong số những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc hiệu quả hoạt động nhượng quyền thương mại tại Việt Nam chưa cao cũng như việc giải quyết tranh chấp hợp đồng nhượng quyền thương mại có nội dung liên quan tới quyền sở hữu trí tuệ còn lúng túng. Vì vậy, với xu hướng phát triển của hoạt động nhượng quyền thương mại như hiện nay, yêu cầu đánh giá một cách tổng thể mối quan hệ giữa pháp luật nhượng quyền và pháp luật về sở hữu trí tuệ hiện hành để từ đó sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định pháp luật có liên quan, đảm bảo khả năng phát triển bền vững của hoạt động nhượng quyền thương mại tại Việt Nam là một nhu cầu tất yếu.

Từ khóa: Nhượng quyền thương mại, pháp luật Sở hữu trí tuệ, Luật thương mại, quyền sở hữu trí tuệ, franchise

I. ĐẶT VẤN ĐỀ:

Nhượng quyền thương mại là mô hình kinh doanh đã phát triển ở các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia phát triển từ những năm 50 sau Đại chiến thế giới lần thứ hai. Ngày nay, nhượng quyền thương mại trở thành một trong những ngành dịch vụ có doanh số rất lớn, tập trung nhiều trong lĩnh vực kinh doanh đồ uống, đồ ăn nhanh, giáo dục đào tạo, thời trang, bất động sản, …với nhiều nhãn hiệu nổi tiếng như KFC, McDonald’s, Qualitea, Starbuck Cafe, Lotteria, Jollibee, Aptech… Tại Việt Nam, mô hình này mới chỉ xuất hiện và phát triển trong khoảng gần 20 năm gần đây, đặc biệt là sau khi Việt Nam trở thành thành viên của WTO.

Quan hệ nhượng quyền thương mại liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau như: quyền sở hữu trí tuệ, cạnh tranh… Bản thân quyền thương mại lại được hình thành từ tổng hợp các quyền liên quan đến nhiều đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ. Chính vì vậy, việc điều chỉnh các quan hệ pháp luật trong nhượng quyền thương mại sẽ chịu sự điều chỉnh của nhiều văn bản quy phạm pháp luật thuộc các lĩnh vực khác nhau. Pháp luật về nhượng quyền thương mại và pháp luật về sở hữu trí tuệ đang có tác động mạnh mẽ nhất tới quan hệ pháp luật trong lĩnh vực nhượng quyền thương mại. Vậy, pháp luật về nhượng quyền thương mại và pháp luật sở hữu trí tuệ có mối quan hệ như thế nào trong việc điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại cũng như sự tương thích của chúng tới đâu? Bài viết này sẽ tập trung phân tích những điểm nổi bật trong mối quan hệ và đánh giá mặt tích cực cũng như hạn chế của chúng trong việc điều chỉnh các quan hệ pháp luật trong lĩnh vực nhượng quyền thương mại. Thông qua đó, nhóm tác giả cũng đưa ra một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện hơn khung pháp lý cho hoạt động nhượng quyền thương mại, đặc biệt là hoạt động nhượng quyền thương mại có liên quan tới quyền sở hữu trí tuệ.

II. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHÁP LUẬT VỀ NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI VÀ PHÁP LUẬT VỀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ:

1. Khái niệm

1.1 Nhượng quyền thương mại

Điều 284 Luật thương mại 2005 quy định “Nhượng quyền thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo các điều kiện sau đây:

1. Việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ được tiến hành theo cách thức tổ chức kinh doanh do bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng hoá, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền;

2. Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận quyền trong việc điều hành công việc kinh doanh”

Như vậy, nhượng quyền thương mại có thể hiểu là phương pháp phân phối hàng hóa và dịch vụ mà trong đó, bên nhượng quyền với một khoản thù lao được trả cho mình, cho phép bên nhận quyền độc lập tiến hành kinh doanh bằng cách sử dụng các nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, dấu hiệu, công nghệ, chỉ dẫn thương mại, cũng như phương pháp, bí quyết kinh doanh… của bên nhượng quyền, và dưới sự hướng dẫn, trợ giúp và kiểm soát chất lượng thường xuyên, chặt chẽ của bên nhượng quyền. Trong hoạt động nhượng quyền thương mại, bên nhượng quyền có thể trong cùng một thời gian cho phép nhiều bên nhận quyền khác nhau cùng sử dụng “quyền kinh doanh” của mình. Bằng cách đó, bên nhượng quyền có thể xây dựng một mạng lưới, hệ thống phân phối hàng hóa và dịch vụ rộng lớn và nhờ đó, tối đa hóa được lợi nhuận.

Nhượng quyền thương mại và sở hữu trí tuệ tại Việt Nam

Nhượng quyền thương mại là hoạt động thương mại mang những đặc điểm, tính chất tổng hợp của một số loại hoạt động thương mại khác, đặc biệt là quan hệ chuyển giao công nghệ, li-xăng quyền sở hữu công nghiệp và hoạt động phân phối thương mại. Tuy nhiên, nhượng quyền thương mại cũng mang những đặc điểm riêng, có những yêu cầu đòi hỏi cao hơn so với các loại hoạt động khác như:

– Đối tượng của hoạt động nhượng quyền thương mại là “quyền thương mại”, trong đó bao gồm nhưng không hạn chế các quyền sở hữu trí tuệ là đối tượng của hợp đồng li-xăng/chuyển giao công nghệ;

– Luôn có sự kiểm soát của bên nhượng quyền và bên nhận quyền phải tuân thủ các quy định của mô hình nhượng quyền thương mại;

– Bên nhận quyền là bên độc lập so với bên nhượng quyền;

– Tính đồng bộ và tính hệ thống của quan hệ nhượng quyền thương mại.

1.2. Hợp đồng nhượng quyền thương mại

Đối với Việt Nam, pháp luật không đưa ra một định nghĩa nào về hợp đồng nhượng quyền thương mại (HĐNQTM). Điều 285 Luật Thương mại 2005 với tiêu đề “hợp đồng nhượng quyền thương mại” chỉ quy định về hình thức của loại hợp đồng này. Như vậy, có thể hiểu, trên phương diện pháp luật, hợp đồng nhượng quyền thương mại là loại hợp đồng được các thương nhân ký kết trong quá trình thực hiện hoạt động nhượng quyền thương mại. Vì vậy, hợp đồng này phải có những đặc điểm chung của hợp đồng được quy định ở chương VI của Bộ luật Dân sự năm 2005. HĐNQTM, do vậy, phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện pháp luật dân sự đặt ra đối với một giao dịch dân sự. Tuy nhiên, nhìn nhận một cách tổng quát, HĐNQTM chính là thoả thuận giữa các bên nhượng quyền và bên nhận quyền về việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ liên quan đến hoạt động nhượng quyền thương mại. Về cơ bản, HĐNQTM thể hiện bản chất của giao dịch nhượng quyền thương mại như được quy định tại Điều 284 Luật Thương mại 2005.

Hợp đồng nhượng quyền thương mại cũng giống như các loại hợp đồng thông thường khác, là sự thỏa thuận của các bên trong quan hệ nhượng quyền thương mại làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt các quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động nhượng quyền và cũng chính là căn cứ, cơ sở để giải quyết tranh chấp có thể sẽ phát sinh giữa các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng.

2. Hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại:

Pháp luật điều chỉnh hợp đồng nhượng quyền thương mại là hệ thống các quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức ký kết và thực hiện hợp đồng nhượng quyền thương mại. Đây là cơ sở pháp lý hết sức quan trọng để giải quyết các vấn đề nảy sinh trong hoạt động nhượng quyền thương mại.

Việt Nam đã ban hành các văn bản pháp luật liên quan đến nhượng quyền thương mại như sau:

– Luật thương mại 2005: Quy định những vấn đề cơ bản nhất liên quan tới hoạt động nhượng quyền thương mại tại Mục 8, cụ thể: các quy định về Khái niệm NQTM (Điều 284), Hợp đồng nhượng quyền thương mại (Điều 285), Quyền và nghĩa vụ của bên nhượng quyền (Điều 285, 286), Quyền và nghĩa vụ của bên nhận quyền (Điều 287, 288), Nhượng quyền lại cho Bên thứ ba (Điều 289), Đăng ký nhượng quyền thương mại (Điều 290)…

– Bộ luật Dân sự 2005

– Nghị định số 35/2006/NĐ-CP ngày 31/03/2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật thương mại về hoạt động nhượng quyền thương mại: Nghị định này có 3 chương, 28 Điều cụ thể hoá và hướng dẫn thi hành Mục 8 Luật Thương mại (2005), đề cập những vấn đề pháp lý chuyên sâu hơn về hợp đồng nhượng quyền thương mại như hình thức, chủ thể, nội dung, đối tượng, thời hạn của hợp đồng NQTM, cụ thể: Thẩm quyền quản lý nhà nước đối với hoạt động NQTM (Điều 4), Điều kiện đối với Bên nhượng quyền, Bên nhận quyền (Điều 5,6), Hàng hoá, dịch vụ được phép kinh doanh NQTM (Điều 7), Trách nhiệm cung cấp thông tin của Bên nhượng quyền, Bên nhận quyền (Điều 8,9), Các đối tượng sở hữu công nghiệp trong NQTM (Điều 10), Nội dung của hợp đồng NQTM (Điều 11),…Thời hạn của hợp đồng NQTM (Điều 13), Chuyển giao quyền TM (Điều 15), Đăng ký hoạt động NQTM (Điều 17), Phân cấp thực hiện đăng ký hoạt động NQTM (Điều 18), Hồ sơ, thủ tục đăng ký hoạt động NQTM (Điều 19,20), Hành vi vi phạm PL trong hoạt động NQTM (Điều 24)…

Bên cạnh đó, nội dung của hợp đồng nhượng quyền thương mại có chứa đựng các điều khoản liên quan tới các vấn đề như các đối tượng sở hữu công nghiệp trong nhượng quyền thương mại cũng như các thoả thuận liên quan tới hạn chế cạnh tranh giữa các chủ thể nên các nội dung này sẽ được điều chỉnh bởi các văn bản pháp luật chuyên ngành như: Luật sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi bổ sung năm 2019 và các văn bản pháp luật liên quan, Luật cạnh tranh 2004, Luật chuyển giao công nghệ 2006…

III. NHỮNG ĐIỂM NỔI BẬT TRONG MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁP LUẬT VỀ NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI VÀ PHÁP LUẬT VỀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ VIỆT NAM

1.  Pháp luật về nhượng quyền thương mại và pháp luật về sở hữu trí tuệ tương hỗ nhau trong việc điều chỉnh đối tượng của hợp đồng nhượng quyền thương mại

Đối tượng của hợp đồng nhượng quyền thương mại là “quyền thương mại” mà bên nhượng quyền cho phép bên nhận nhượng quyền được sử dụng trong kinh doanh. Theo quy định tại khoản 6 điều 3 Nghị định 35/2016/NĐ-CP, “quyền thương mại” là quyền được Bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu Bên nhận quyền tự mình tiến hành công việc kinh doanh cung cấp hàng hoá hoặc dịch vụ theo một hệ thống do Bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng hoá, tên thương mại, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của Bên nhượng quyền.  

Trong nhượng quyền thương mại, mục tiêu mà bên nhận quyền hướng tới là nắm giữ và vận hành hệ thống kinh doanh, quy trình quản lý, vận hành chuỗi hệ thống cơ sở trong kinh doanh, chính sách kinh doanh, tiêu chuẩn thiết kế kinh doanh, nhà hàng… và trong đó, quyền sở hữu công nghiệp (nhãn hiệu hàng hoá, kiểu dáng công nghiệp, sáng chế, bí mật kinh doanh…), quyền tác giả (sách hướng dẫn hoạt động, tài liệu về quy trình…) chiếm vai trò hết sức quan trọng. Việc hợp đồng nhượng quyền thương mại có quy định liên quan đối tượng nhượng quyền là quyền sở hữu công nghiệp đã giúp hợp đồng nhượng quyền trở nên chặt chẽ hơn.

Theo quy định tại điều 10, Nghị định 35/2006/NĐ-CP, phần chuyển giao quyền sử dụng các đối tượng sở hữu công nghiệp có thể được lập thành một phần riêng trong hợp đồng nhượng quyền thương mại và chịu sự điều chỉnh của pháp luật về sở hữu công nghiệp, trong đó Luật sở hữu trí tuệ là văn bản pháp luật giữ vai trò hết sức quan trọng trong việc điều chỉnh này.

Khoản 4 điều 287 Luật Thương mại 2005 cũng quy định bên nhượng quyền có nghĩa vụ đảm bảo quyền sở hữu trí tuệ đối với các đối tượng được ghi trong hợp đồng nhượng quyền. Cùng với việc ký kết hợp đồng nhượng quyền, bên nhượng quyền sẽ cấp cho bên nhận quyền quyền sử dụng không độc quyền các đối tượng sở hữu trí tuệ và hướng dẫn bên nhận quyền sử dụng đúng đắn các đối tượng này. Để có thể cấp quyền sử dụng cho bên nhận quyền, bên nhượng quyền đảm bảo mình là chủ sở hữu hoặc người kiểm soát các đối tượng trên và có quyền cấp quyền cho bên nhận quyền sử dụng. Đồng thời bên nhượng quyền cũng cam kết sẽ không để cho bên nhận quyền chịu bất kỳ thiệt hại nào trong trường hợp có bất kỳ tranh chấp với bên thứ ba về quyền sở hữu của các đối tượng đó. Việc li-xăng quyền sử dụng nhãn hiệu hàng hóa là không độc quyền và do đó bên nhượng quyền có thể (1) tự mình sử dụng nhãn hiệu hàng hóa, nhượng quyền và cấp li-xăng cho các bên khác sử dụng; (2) thành lập, phát triển và nhượng quyền các hệ thống khác với hệ thống đã li- xăng cho bên nhận quyền mà không cần phải cung cấp cho bên nhận quyền bất kỳ quyền nào theo hệ thống đó; và (3) thay đổi, sửa đổi toàn bộ hoặc một phần bất kỳ khía cạnh nào của hệ thống miễn là các quyền của bên nhận quyền không bị bất lợi một cách nghiêm trọng.  Bất kỳ và tất cả danh tiếng phát sinh từ việc bên nhận quyền sử dụng các nhãn hiệu hàng hóa phù hợp với hệ thống của bên nhượng quyền là duy nhất và độc quyền lợi ích của bên nhượng quyền và khi hết hạn hoặc chấm dứt hợp đồng nhượng quyền, bên nhượng quyền sẽ không thanh toán cho bên nhận quyền bất kỳ khoản tiền nào cho việc bên nhận quyền đã đóng góp vào danh tiếng do sử dụng hệ thống hoặc nhãn hiệu hàng hóa.

Hơn nữa, sản phẩm, dịch vụ cung cấp cho người tiêu dùng mang nhãn hiệu của bên nhượng quyền cần bảo đảm thống nhất về chất lượng. Bên nhượng quyền với tư cách là chủ sở hữu nhãn hiệu phải chịu trách nhiệm bảo vệ và đảm bảo chất lượng của hàng hóa hoặc dịch vụ gắn liền với các nhãn hiệu đó. Bên nhượng quyền phải chủ động theo dõi nhãn hiệu để đảm bảo rằng mức độ chất lượng đã được thiết lập được bên nhận quyền duy trì. Hợp đồng nhượng quyền được soạn thảo chặt chẽ sẽ quy định chi tiết các nghĩa vụ cụ thể của bên nhận quyền liên quan đến nhãn hiệu. Bên nhượng quyền sẽ có quyền kiểm tra giám sát đối với sản phẩm và dịch vụ mang nhãn hiệu. Ngoài ra, bên nhượng quyền cũng cần thiết phải cung cấp cho bên nhận quyền các hướng dẫn sử dụng nhãn hiệu và hướng dẫn mức độ chất lượng và tính thống nhất của sản phẩm và dịch vụ cần được duy trì.

Đối với bên nhận nhượng quyền, khoản 4 và khoản 5 điều 289 Luật thương mại 2005 quy định rất cụ thể nghĩa vụ đối với các tài sản sở hữu trí tuệ:

Nghĩa vụ giữ bí mật về bí quyết kinh doanh đã được nhượng quyền kể cả sau khi HĐNQTM kết thúc hoặc chấm dứt: Đây là nghĩa vụ cần thiết không những cho bên nhượng quyền mà còn cho cả bên nhận quyền. Bên nhượng quyền quan tâm đến việc giữ bí mật để bảo vệ sở hữu trí tuệ của mình trước đối thủ cạnh tranh, còn bên nhận quyền quan tâm đến việc giữ bí mật này bởi sự thành công của họ phụ thuộc vào sự thành công của cả hệ thống nhượng quyền. Hợp đồng nhượng quyền sẽ quy định rõ những thông tin nào cần bảo mật, những biện pháp cần áp dụng để bảo mật các thông tin đó và trách nhiệm của bên nhận quyền trong trường hợp không bảo mật các thông tin đó. Mặc dù mỗi bên nhượng quyền có thứ tự ưu tiên khác nhau, kinh doanh nhượng quyền đều coi các tài liệu kế toán, kỹ thuật, cơ cấu, tiếp thị, thiết kế, phân phối, công thức, kế hoạch kinh doanh, sách hướng dẫn hoạt động, và các kỹ thuật tính giá là các ứng viên để bảo mật. Một phần của sách hướng dẫn hoạt động phải xác định được tất cả những thông tin mà bên nhượng quyền coi là bí mật và quy định việc sử dụng và bảo mật các thông tin đó khi cấp li-xăng cho bên nhận quyền sử dụng. Nghĩa vụ bảo mật cũng là một phần trong chương trình đào tạo của bên nhượng quyền, theo đó trong quá trình đào tạo bên nhượng quyền sẽ giải thích cho bên nhận quyền và các nhân viên của bên nhận quyền các nghĩa vụ pháp lý và trách nhiệm thường xuyên của họ phải bảo mật các thông tin. Bên nhận quyền xác nhận rằng tất cả các thông tin chứa đựng trong sách hướng dẫn hoạt động và các tài liệu khác là tài sản được bảo mật và bên nhận quyền sẽ sử dụng tất cả các nỗ lực hợp lý để giữ các thông tin trên như thông tin được bảo mật.

Các thông tin bí mật thương mại phải được đảm bảo an toàn tối đa phù hợp với nhu cầu tham khảo thường xuyên các bí mật đó của bên nhận quyền. Bên nhận quyền sẽ giới hạn gắt gao việc tiếp cận các tài liệu này, chỉ dành cho những người lao động thực sự có nhu cầu phải tham khảo rõ ràng và hợp lý các thông tin được chứa đựng trong các tài liệu mật để thực hiện công việc theo chức vụ của họ và tuân thủ nghiêm ngặt bất kỳ những quy định nào trong các tài liệu hướng dẫn liên quan đến việc giữ gìn, lưu trữ, và sử dụng các tài liệu mật. Những người lao động được tiếp cận những thông tin bí mật của bên nhượng quyền sẽ được thông báo về trách nhiệm và nghĩa vụ pháp lý của họ bảo mật thông tin. Theo yêu cầu của bên nhượng quyền, Bên nhận quyền cũng cần đảm bảo rằng người quản lý và nhân viên sẽ ký một giấy cam kết theo mẫu của bên nhượng quyền rằng không tiết lộ cho các bên thứ ba bất kỳ thông tin bảo mật nào hoặc kiến thức liên quan đến việc kinh doanh, các nhãn hiệu hoặc hệ thống mà người quản lý hoặc nhân viên đó đã được cung cấp hoặc bằng cách khác biết được các thông tin đó.

Bên cạnh đó, Bên Nhận quyền không được phép tiết lộ, sử dụng hoặc để cho người khác sử dụng dù trực tiếp hoặc gián tiếp các thông tin hoặc kiến thức liên quan đến hệ thống cho lợi ích riêng của mình hoặc của bất kỳ người nào khác vào mọi thời điểm mà không có sự chấp thuận trước bằng văn bản của bên nhượng quyền dù trước hay sau khi chấm dứt hợp đồng nhượng quyền. Ngoài ra, nếu không có sự đồng ý trước bằng văn bản của bên nhượng quyền, bên nhận quyền sẽ không sao y, sao lục, ghi chép, hoặc bằng cách khác nhân bản bất kỳ phần nào của các tài liệu mật và không để cho những người không có thẩm quyền có tiếp cận các tài liệu kể trên.

Ngừng sử dụng nhãn hiệu hàng hoá, tên thương mại, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh và các quyền sở hữu trí tuệ khác (nếu có) hoặc hệ thống của bên nhượng quyền khi kết thúc hoặc chấm dứt hoạt động nhượng quyền thương mại: Quy định này nhằm đảm bảo cho bên nhượng quyền luôn bảo vệ được hệ thống, tránh tình trạng bên nhận quyền, người lao động của bên nhận quyền sử dụng các kiến thức có được từ bên nhượng quyền để tiến hành việc kinh doanh riêng đồng thời cũng tránh tình trạng các bên nhận quyền cạnh tranh với nhau. Đây cũng chính là một trong những quy định đặc trưng đối với việc chấm dứt hợp đồng nhượng quyền thương mại so với các dạng hộp đồng khác.

Luật sư Nguyễn Thuý Chung, Công ty Luật ASL LAW

Tuy nhiên, cũng cần phải thấy rằng, quy định tại điều 10 Nghị định 35/2006/NĐ-CP, bên cạnh việc cho thấy mối liên hệ mật thiết của quyền sở hữu trí tuệ với hoạt động nhượng quyền thương mại thì cũng đã tạo ra những phức tạp không đáng có đối với các vấn đề về sở hữu công nghiệp trong Hợp đồng nhượng quyền thương mại. Sự phức tạp này tìm thấy trước hết ở chỗ trong pháp luật về sở hữu công nghiệp, chủ yếu các quy định chỉ dành để điều chỉnh các mối quan hệ liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp đơn thuần và đối tượng sở hữu công nghiệp riêng lẻ, tách biệt. Nếu áp dụng những quy định này đối với “quyền thương mại” trong quan hệ hợp đồng nhượng quyền thương mại thì không hợp lý bởi hoạt động nhượng quyền thương mại với những đặc trưng cơ bản của nó cho phép các chủ thể hợp đồng, đôi khi không nhất thiết phải tuân thủ các nguyên tắc cứng nhắc của pháp luật về sở hữu trí tuệ.

Đơn cử như các đặc trưng pháp lý của hoạt động nhượng quyền thương mại cho phép bên nhượng quyền được nhượng lại “quyền thương mại” trong đó có kèm tên thương mại của mình cho bên nhận quyền để bên này có thể cùng kinh doanh dưới tên thương mại đó trong khi đó theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ thì “tên thương mại” là đối tượng không được phép chuyển quyền sử dụng (khoản 1 điều 142 Luật SHTT) hoặc phải được chuyển nhượng cùng với việc chuyển nhượng toàn bộ cơ sở kinh doanh và hoạt động kinh doanh dưới tên thương mại đó (khoản 3 điều 139 Luật SHTT). Bên cạnh đó, Luật Sở hữu trí tuệ (2005) của Việt Nam chỉ đề cập tới việc bảo hộ từng yếu tố cấu thành riêng lẻ của “quyền thương mại” như tên thương mại hay nhãn hiệu hàng hoá, nhãn hiệu dịch vụ. Trong khi đó, đối với hoạt động nhượng quyền thương mại, tập hợp các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ của bên nhượng quyền đòi hỏi phải được bảo hộ cùng với nhau, chỉ cần sự thay đổi của bất kỳ yếu tố cấu thành nào cũng làm cho “quyền thương mại” bị thay đổi. Các yếu tố cấu thành nên “quyền thương mại” trong quan hệ nhượng quyền thương mại không chỉ là các yếu tố được pháp luật về sở hữu trí tuệ bảo hộ như tên thương mại, nhãn hiệu hàng hoá, sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng, bí mật kinh doanh … mà còn là những yếu tố không được pháp luật về sở hữu trí tuệ bảo hộ, ví dụ: khẩu hiệu, slogan, cách thức bày biện, trang trí cửa hàng.

2. Sự tương hỗ giữa pháp luật về nhượng quyền thương mại và pháp luật sở hữu trí tuệ trong quy định về sự kiểm soát của bên nhượng quyền đối với bên nhận quyền

Nhượng quyền thương mại là việc nhiều chủ thể tiến hành kinh doanh với một tên gọi, cách thức thống nhất. Do vậy, yêu cầu của hoạt động này là phải đảm bảo được tính đồng nhất về các yêu tố liên quan đến quy trình kinh doanh như thống nhất về chất lượng hàng hóa, dịch vụ, phương thức phục vụ, cách thức bài trí cơ sở kinh doanh. Để thực hiện được điều đó thì bên nhượng quyền luôn yêu cầu các bên nhận quyền bắt buộc phải có nghĩa vụ tuân thủ theo mô hình kinh doanh của bên nhượng quyền, phải áp dụng toàn bộ bí quyết của bên nhượng quyền như: bên nhận quyền buộc phải thực hiện việc bố trí theo tiêu chuẩn tại các địa điểm bán hàng; hoạt động quảng cáo, xúc tiến thương mại tại địa phương phải theo chỉ đạo của bên nhượng quyền nhằm tạo ra sự thống nhất, đồng bộ của mô hình kinh doanh. Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát bên nhận quyền trong việc tuân thủ mô hình nhượng quyền thương mại. Kiểm soát việc tuân thủ mô hình nhượng quyền thương mại là quyền,  đồng thời là trách nhiệm của bên nhượng quyền. Bên nhượng quyền có thể định kỳ hoặc đột xuất kiểm tra việc thực hiện các quyền thương mại của bên nhận quyền. Đặc điểm này thể hiện sự khác biệt giữa hoạt động nhượng quyền thương mại và hoạt động chuyển giao công nghệ. Trong nhượng quyền thương mại thì đây là nội dung quan trọng và không thể thiếu được nhằm đảm bảo tính thống nhất của cả hệ thống, còn trong hoạt động chuyển giao công nghệ thì về nguyên tắc, sau khi chuyển giao xong thì bên chuyển quyền sẽ không có quyền kiểm soát hoạt động của bên nhận quyền.

Trong hoạt động nhượng quyền thương mại, để có thể kiểm soát tốt hệ thống nhượng quyền, bên nhượng quyền thường đặt ra các thỏa thuận liên quan tới việc cung ứng nguồn nguyên liệu, sản phẩm, dịch vụ cũng như chi phí cho nguồn nguyên liệu đầu vào. Sự thỏa thuận của các bên trong quan hệ nhượng quyền thương mại về việc cung ứng nguyên liệu đầu vào để tạo thành sản phẩm được xem là hợp lý trong phạm vi nhượng quyền thương mại, đảm bảo được sự đồng bộ về chất lượng sản phẩm trong cùng hệ thống nhượng quyền thương mại, giúp hệ thống nhượng quyền định dạng nét độc đáo của mô hình kinh doanh đối với người tiêu dùng. Tuy nhiên, điều này có thể dẫn đến sự lạm quyền của bên nhượng quyền trong việc đặt ra sự áp đặt, kiểm soát đối với bên nhận quyền, gây hạn chế cạnh tranh trên thương trường. 

Pháp luật về nhượng quyền thương mại không có quy định cụ thể nào giới hạn quyền của bên nhượng quyền liên quan tới nội dung nêu trên.  Tuy nhiên, như đã phân tích ở phần trên, quyền sở hữu trí tuệ là một phần quan trọng trong “quyền thương mại” của hoạt động nhượng quyền thương mại. Do đó, ở một góc độ nhất định, hợp đồng nhượng quyền thương mại có thể được hiểu là hợp đồng li-xăng quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp, hợp đồng chuyển giao công nghệ “mở rộng”. Vì vậy, theo quy định tại điều 10, Nghị định 35/2006/NĐ-CP các điều khoản liên quan tới việc cho phép sử dụng các đối tượng sở hữu công nghiệp trong hợp đồng nhượng quyền thương mại sẽ chịu sự điều chỉnh của pháp luật về sở hữu công nghiệp.

Căn cứ vào khoản 2 điều 44 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, các thoả thuận mà bên nhượng quyền đưa ra sẽ không có điều khoản hạn chế bất hợp lý quyền của bên nhận quyền, đặc biệt là các điều khoản không xuất pháp từ quyền của bên chuyển quyền như buộc bên được chuyển quyền phải mua toàn bộ hoặc một tỷ lệ nhất định các nguyên liệu, linh kiện hoặc thiết bị của bên chuyển quyền hoặc của bên thứ ba do bên chuyển quyền chỉ định mà không nhằm mục đích bảo đảm chất lượng hàng hóa, dịch vụ do bên được chuyển quyền sản xuất hoặc cung cấp. Song cũng cần lưu ý rằng, theo khoản 1 Điều 284 Luật Thương mại 2005  quy định: “Việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ được tiến hành theo cách thức tổ chức kinh doanh do bên nhượng quyền quy định…”. Do đó, nếu như trong hợp đồng chuyển giao công nghệ, bên nhận sẽ có quyền cải tiến, phát triển công nghệ được chuyển giao mà không cần phải thông báo cho bên giao biết, hoặc, trong hợp đồng li-xăng sẽ không được có điều khoản hạn chế “Cấm bên được chuyển quyền cải tiến đối tượng sở hữu công nghiệp, trừ nhãn hiệu; buộc bên được chuyển quyền phải chuyển giao miễn phí cho bên chuyển quyền các cải tiến đối tượng sở hữu công nghiệp do bên được chuyển quyền tạo ra hoặc quyền đăng ký sở hữu công nghiệp, quyền sở hữu công nghiệp đối với các cải tiến đó” (khoản a, điểm 2, điều 44 Luật SHTT 2005) thì trong nhượng quyền thương mại, bên nhận quyền không có quyền đưa bất kỳ cải tiến, phát triển nào vào việc kinh doanh của mình cũng như không được thay đổi, điều chỉnh phương thức kinh doanh nếu không có sự đồng ý của bên nhượng quyền vì làm như vậy sẽ làm mất đi tính thống nhất của hệ thống, gây ảnh hưởng xấu cho cả hệ thống.

3. Cùng với pháp luật về nhượng quyền thương mại, pháp luật sở hữu trí tuệ giữ vai trò quan trọng trong việc xử lý các tranh chấp về hợp đồng nhượng quyền thương mại liên quan tới sở hữu trí tuệ

Quan hệ nhượng quyền thương mại luôn luôn tiềm ẩn những mâu thuẫn và xung đột lợi ích. Các tranh chấp hợp đồng nhượng quyền thương mại thường có yếu tố tài sản, gắn liền với quyền và lợi ích của các bên tranh chấp và phát sinh trực tiếp từ quan hệ hợp đồng, vì vậy các bên luôn có quyền tự định đoạt và giải quyết theo nguyên tắc bình đẳng, thoả thuận. Nội dung của những tranh chấp liên quan tới hợp đồng nhượng quyền thương mại thường gắn chặt với quyền thương mại, nhất là các quyền về sở hữu trí tuệ. Các tranh chấp liên quan tới sở hữu trí tuệ và cạnh tranh làm cho việc giải quyết tranh chấp hợp đồng nhượng quyền thương mại càng phức tạp. Tính phức tạp này không chỉ dừng lại ở việc áp dụng luật, mà còn phức tạp trong việc lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp.

Luật thương mại 2005 và Nghị định 35/2006/NĐ-CP không có bất kỳ quy định trực tiếp nào về các tranh chấp về hợp đồng nhượng quyền thương mại, đặc biệt là các tranh chấp về nội dung hợp đồng về quyền sở hữu trí tuệ cũng như phương thức giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên, thông qua quy định tại khoản 1 điều 16 Nghị định 35/2006/NĐ-CP về việc bên nhận nhượng quyền có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng nhượng quyền thương mại trong trường hợp Bên nhượng quyền vi phạm nghĩa vụ quy định tại Điều 287 của Luật Thương mại. Trong đó có nghĩa vụ bảo đảm quyền sở hữu trí tuệ đối với đối tượng được ghi trong hợp đồng nhượng quyền.

Chúng ta có thể thấy rõ rằng tranh chấp liên quan tới quyền sở hữu trí tuệ là vấn đề luôn luôn tiềm ẩn trong quá trình các bên thực hiện hợp đồng. Ngoài ra, trên thực tiễn, rất nhiều tranh chấp phát sinh từ việc bên nhận quyền có các hành vi hoặc sự bỏ sót gây ảnh hưởng xấu hoặc hủy hoại các nhãn hiệu hàng hóa, dịch vụ hoặc uy tín gắn liền với các nhãn hiệu hàng hóa, dịch vụ đó hoặc vi phạm các quy định về bảo mật trong hợp đồng, và/hoặc, Bên nhận quyền có các hành vi vi phạm các quy định về việc sử dụng các đối tượng sở hữu trí tuệ của bên nhượng quyền bao gồm cả việc tiết lộ hoặc hoặc cho phép hoặc để yên cho việc tiết lộ sách hướng dẫn hoạt động và các thông tin mật khác trái với các điều khoản của hợp đồng này, vi phạm các quy định về hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng nhượng quyền.

Tranh chấp về hợp đồng nhượng quyền thương mại về bản chất là tranh chấp trong thương mại nên sẽ được giải quyết theo các quy định tại chương VII – Chế tài trong thương mại và giải quyết tranh chấp trong thương mại của Luật thương mại 2005. Như vậy các hình thức giải quyết tranh chấp thương mại là hình thức chủ đạo trong việc giải quyết tranh chấp hợp đồng nhượng quyền thương mại, bao gồm: (1) Thương lượng; (2) Hòa giải; (3) Trọng tài thương mại; và (4) Tòa án. Tuy nhiên do tính chất tranh chấp phức tạp đa lĩnh vực nên khó có thể tuân thủ hoàn toàn các hình thức giải quyết tranh chấp thương mại nêu trên. Theo quy định tại khoản 2 điều 200 Luật SHTT 2005 và điều 26, điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, các tranh chấp về hợp đồng liên quan tới sở hữu trí tuệ sẽ thuộc thẩm quyền của Toà án. Vì vậy, việc có thể tiến hành giải quyết tranh chấp hợp đồng nhượng quyền thương mại liên quan hoàn toàn tới quyền sở hữu trí tuệ  tại trọng tài thương mại được không là một câu hỏi lớn đối với pháp luật cũng như việc thực thi pháp luật tại Việt Nam hiện nay.

III. KẾT LUẬN

Từ các phân tích nêu trên có thể thấy, pháp luật về nhượng quyền thương mại và pháp luật về sở hữu trí tuệ đang có sự tương thích khá lớn trong việc điều chỉnh quan hệ pháp luật nhượng quyền thương mại. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn tồn tại không ít điểm mâu thuẫn, chưa đồng bộ hoá, gây ra những vướng mắc không cần thiết. Vì vậy, việc sửa đổi Luật sở hữu trí tuệ trong đó có các quy định điều chỉnh chi tiết hoạt động nhượng quyền thương mại rất thiết thực. Pháp luật về sở hữu trí tuệ cần có những quy định nhằm bảo hộ một cách toàn diện “quyền thương mại” của bên nhượng quyền trong hoạt động nhượng quyền thương mại. Nói một cách khác, “quyền thương mại” với những yếu tố cấu thành của nó như tên thương mại, nhãn hiệu hàng hoá, nhãn hiệu dịch vụ, biểu tượng thương mại, bí quyết kinh doanh… phải được bảo hộ một cách thống nhất. Hơn thế nữa, các nhà làm luật cũng nên xem xét để đưa vào Luật Sở hữu Trí tuệ những quy định nhằm bảo hộ những sáng tạo đặc biệt của bên nhượng quyền khi tiến hành xây dựng các cơ sở nhượng quyền thương mại, ví dụ như hệ thống cửa hàng nhượng quyền thương mại, cách thức tổ chức kinh doanh, cách bài trí cửa hàng…Việc cấm chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp không được chuyển nhượng tên thương mại cũng phải có ngoại lệ cho bên nhượng quyền trong quan hệ với bên nhận quyền để tránh bóp méo quan hệ giữa các chủ thể trong hợp đồng hoặc tránh tình trạng áp dụng pháp luật không đúng các nguyên tắc của nhà nước pháp quyền. Cũng tương tự như vậy, các quy định về cấm chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp hạn chế một số quyền trong hoạt động kinh doanh của bên sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp cũng cần phải có ngoại lệ đối với quan hệ giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền trong hoạt động nhượng quyền thương mại. Ngoài ra, pháp luật cũng cần quy định mở hơn đối với phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng nhượng quyền thương mại nhằm giúp các chủ thể có thể tìm được phương thức giải quyết nhanh gọn, hiệu quả và phù hợp hơn trong quá trình giải quyết tranh chấp. Việc hoàn thiện, đồng bộ hoá các quy định pháp luật về nhượng quyền thương mại và sở hữu trí tuệ sẽ góp phần không nhỏ trong việc thu hút các bên tham gia hoạt động nhượng quyền thương mại, thúc đẩy sự phát triển của mô hình kinh doanh này cũng như phát huy vai trò, tác dụng của nó đối với nền kinh tế đất nước.

Luật sư Nguyễn Thuý Chung, Công ty Luật ASL LAW

Liên hệ với công ty luật ASL LAW để tư vấn pháp lý về nhượng quyền thương mại tại Việt Nam.

    LIÊN HỆ

    Thông tin liên hệ

    Đặt câu hỏi


    Lưu ý: Quý khách vui lòng điền đẩy đủ thông tin vào ô có (*)

    BÀI VIẾT HỮU ÍCH LIÊN QUAN

    Nhượng quyền thương mại (Franchise) tại Việt NamNhượng Quyền Thương Mại (franchise): Những Điểm Gây Tranh Chấp Thường thấy
    Những vấn đề bất cập trong chính sách nhượng quyền thương mại tại Việt Nam15 lưu ý và thiếu sót khi soạn thảo hợp đồng Nhượng quyền thương mại (Franchise)
    ASL LAW – Cam kết đồng hành cùng doanh nghiệpNhững vấn đề pháp lý cần lưu ý đối với các công ty khởi nghiệp (startup) Việt Nam
    Đăng ký thương hiệu quốc tếQuy trình đăng ký nhãn hiệu tại Việt Nam
    Đăng ký nhãn hiệu như thế nàoThủ tục đăng ký nhãn hiệu hàng hoá
    Đăng ký nhãn hiệu hàng hoáDịch vụ bảo hộ nhãn hiệu
    Đăng ký bản quyềnĐăng ký bản quyền bài hát
    Công ty luật sở hữu trí tuệĐại diện sở hữu trí tuệ
    ***Dịch Vụ pháp lý khác của Công ty luật ASL LAW***
    Dịch vụ pháp lý thuê ngoài cho doanh nghiệp và StartupĐăng ký nhãn hiệu quốc tế
    Tư vấn đầu tư ra nước ngoài cho doanh nghiệp Việt NamĐăng ký sáng chế
    Tư vấn đầu tư tại Việt Nam cho doanh nghiệp nước ngoài kinh doanh tai Việt NamTư vấn Mua bán sáp nhập doanh nghiệp (M&A)
    Mở công ty tại Việt NamTư vấn tài Chính – Ngân hàng
    Mở văn phòng đại diện tại Việt NamDịch vụ Soạn thảo hợp đồng
    Dịch vụ sở hữu trí tuệPháp lý về lao động và việc làm
    Đăng ký nhãn hiệu tại Việt NamTư vấn giải quyết tranh chấp
    Đăng ký bản quyềnTư vấn nhượng quyền thương mại

    Contact Me on Zalo
    +84366667697
    WhatsApp chat