Trong bối cảnh hoạt động xuất khẩu của Việt Nam tiếp tục mở rộng tại nhiều thị trường quốc tế, nguy cơ phát sinh các vụ việc điều tra phòng vệ thương mại, gian lận xuất xứ và chuyển tải bất hợp pháp đang trở thành vấn đề doanh nghiệp cần đặc biệt quan tâm. Những mặt hàng có kim ngạch tăng trưởng nhanh, chiếm thị phần lớn hoặc cạnh tranh trực tiếp với sản phẩm đang bị áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại thường có nguy cơ thu hút sự chú ý của cơ quan điều tra và ngành sản xuất tại nước nhập khẩu.
Dựa trên tình hình xuất nhập khẩu trong 7 tháng đầu năm 2026 và các biện pháp phòng vệ thương mại đang được áp dụng tại những thị trường liên quan, danh sách dưới đây tổng hợp các nhóm sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam cần được theo dõi về nguy cơ phát sinh điều tra. Thông tin bao gồm mã HS tham khảo, tình hình áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại, quy mô xuất khẩu, thị phần của Việt Nam và những rủi ro doanh nghiệp cần lưu ý. Đây là cơ sở để doanh nghiệp chủ động rà soát chuỗi cung ứng, kiểm soát nguồn gốc nguyên liệu, hoàn thiện hồ sơ xuất xứ và chuẩn bị phương án ứng phó khi có yêu cầu xác minh hoặc điều tra từ cơ quan chức năng nước nhập khẩu.
1. Nhóm hàng gỗ và sản phẩm gỗ
Ghế bọc đệm có khung bằng gỗ (Seats with Wooden Frames, Upholstered) xuất khẩu sang Hoa Kỳ
Mã HS tham khảo: 9401.61
Hiện Hoa Kỳ chưa áp dụng biện pháp chống bán phá giá hoặc chống trợ cấp đối với mặt hàng ghế bọc đệm có khung bằng gỗ. Dù vậy, kể từ ngày 14/10/2025, sản phẩm này thuộc diện chịu mức thuế 25% theo Mục 232, áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu từ tất cả các quốc gia.
Trong 7 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu sang Hoa Kỳ lượng ghế bọc đệm có khung bằng gỗ trị giá 1,86 tỷ USD, thấp hơn 6,7% so với mức 1,99 tỷ USD của cùng kỳ năm trước. Đáng chú ý, hàng hóa Việt Nam chiếm tới 61,6% tổng giá trị nhập khẩu mặt hàng này của Hoa Kỳ, tương đương 3,02 tỷ USD. Việt Nam hiện dẫn đầu về nguồn cung, tiếp theo là Mexico và Trung Quốc.
Với mức độ hiện diện lớn trên thị trường Hoa Kỳ, mặt hàng này có thể tiếp tục thu hút sự quan tâm của các nhà sản xuất nội địa và cơ quan điều tra, bất kể kim ngạch xuất khẩu đang có dấu hiệu suy giảm. Doanh nghiệp cần chủ động xây dựng hệ thống chứng từ truy xuất nguồn gốc nguyên liệu, kiểm soát chi phí và giá thành sản phẩm, đồng thời bảo đảm hồ sơ sản xuất, mua bán được lưu trữ đầy đủ để phục vụ công tác xác minh khi cần thiết.
Đồ nội thất phòng ngủ bằng gỗ (Bedroom Furniture) xuất khẩu sang Hoa Kỳ
Các mã HS tham khảo: 9403.50, 9403.90
Từ năm 2005, Hoa Kỳ đã duy trì biện pháp chống bán phá giá đối với sản phẩm đồ nội thất phòng ngủ bằng gỗ có xuất xứ từ Trung Quốc.
Số liệu 7 tháng năm 2026 cho thấy xuất khẩu mặt hàng này từ Việt Nam sang Hoa Kỳ đạt 892,9 triệu USD, giảm 21,1% so với mức 1,13 tỷ USD ghi nhận trong cùng kỳ năm 2025. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn chiếm 56,7% tổng kim ngạch nhập khẩu sản phẩm tương ứng của Hoa Kỳ, đạt 1,58 tỷ USD, qua đó tiếp tục giữ vị trí nhà cung cấp lớn nhất. Malaysia và Ý lần lượt đứng sau Việt Nam.
Thị phần cao cùng với vị thế dẫn đầu khiến đồ nội thất phòng ngủ bằng gỗ tiếp tục là mặt hàng cần được giám sát về nguy cơ phát sinh điều tra phòng vệ thương mại. Đặc biệt, doanh nghiệp cần đánh giá kỹ cơ cấu nguồn nguyên liệu đầu vào, mức độ sử dụng nguyên liệu có nguồn gốc Trung Quốc và khả năng chứng minh quá trình sản xuất thực tế tại Việt Nam. Hồ sơ cần phản ánh đầy đủ từng công đoạn chế biến, gia công nhằm hạn chế nghi vấn về xuất xứ hoặc hành vi lẩn tránh biện pháp đang áp dụng đối với Trung Quốc.
Ván ép gỗ cứng (Hardwood Plywood) xuất khẩu sang EU
Các mã HS tham khảo: 4412.31, 4412.33, 4412.34
EU hiện áp dụng thuế chống bán phá giá đối với ván ép gỗ cứng nhập khẩu có xuất xứ Trung Quốc.
Trong 7 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu ván ép gỗ cứng của Việt Nam sang EU đạt 129,85 triệu USD, tăng 710,7% so với cùng kỳ năm 2025. Giá trị này tương ứng 26,7% tổng kim ngạch nhập khẩu sản phẩm cùng loại của EU, đạt 485,69 triệu USD. Việt Nam đã vươn lên vị trí nhà cung cấp lớn nhất tại thị trường này, đứng trước Ukraine, Gabon, Indonesia và Kazakhstan.
Mức tăng trưởng đột biến, kết hợp với thị phần đáng kể, có thể làm gia tăng sự chú ý của ngành sản xuất ván ép tại EU. Trong bối cảnh EU đang áp dụng biện pháp chống bán phá giá đối với sản phẩm cùng loại từ Trung Quốc, nguy cơ phát sinh điều tra đối với hàng hóa Việt Nam cần được tính đến. Doanh nghiệp nên đặc biệt chú trọng chứng minh nguồn gốc gỗ, xuất xứ nguyên liệu và tính thực chất của các công đoạn sản xuất trong nước.
Thanh nẹp gỗ và sản phẩm gia công gỗ (Wood Mouldings, Millwork Products) xuất khẩu sang Hoa Kỳ
Các mã HS tham khảo: 4409.10, 4409.22, 4409.29
Hoa Kỳ hiện áp dụng đồng thời thuế chống bán phá giá và chống trợ cấp đối với sản phẩm tương tự nhập khẩu từ Trung Quốc, đồng thời duy trì thuế chống bán phá giá đối với hàng hóa có xuất xứ Brazil.
Trong giai đoạn tháng 1–7/2026, kim ngạch xuất khẩu thanh nẹp gỗ và sản phẩm gia công gỗ của Việt Nam sang Hoa Kỳ đạt 33,8 triệu USD, giảm 39,3% so với mức 55,7 triệu USD của cùng kỳ năm 2025. Mặc dù vậy, hàng hóa Việt Nam vẫn chiếm 13% tổng kim ngạch nhập khẩu của Hoa Kỳ, tương đương 260 triệu USD. Việt Nam hiện là nguồn cung lớn thứ hai, chỉ sau Mexico.
Việc duy trì thị phần tương đối lớn trong một thị trường đã có tiền lệ áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại khiến sản phẩm này vẫn tiềm ẩn nguy cơ bị điều tra, đặc biệt nếu xuất khẩu phục hồi. Doanh nghiệp cần kiểm tra kỹ xuất xứ nguyên liệu đầu vào, tránh phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu chính từ Trung Quốc và chuẩn hóa hồ sơ chứng minh các công đoạn gia công, chế biến được thực hiện tại Việt Nam.
2. Nhóm hàng thép và sản phẩm thép
Thép cuộn và thép tấm cán nóng (Hot-rolled Steel Sheets and Coils) xuất khẩu sang Indonesia
Các mã HS tham khảo: 7208.10, 7208.25, 7208.26, 7208.27, 7208.36, 7208.37, 7208.38, 7208.39, 7208.90
Indonesia đang áp dụng thuế chống bán phá giá đối với thép cuộn và thép tấm cán nóng nhập khẩu từ nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ, bao gồm Trung Quốc, Ấn Độ, Nga, Kazakhstan, Belarus, Đài Loan (Trung Quốc) và Thái Lan. Các biện pháp này đã được gia hạn từ tháng 1/2025 đến năm 2030. Ngoài ra, trong năm 2025, nước này tiếp tục khởi xướng một cuộc điều tra chống bán phá giá mới đối với sản phẩm cùng loại nhập khẩu từ Trung Quốc.
Kim ngạch xuất khẩu thép cuộn và thép tấm cán nóng của Việt Nam sang Indonesia trong 7 tháng năm 2026 đạt 79,7 triệu USD, giảm 14,9% so với mức 93,7 triệu USD của cùng kỳ năm 2025. Việt Nam chiếm 26,2% tổng giá trị nhập khẩu mặt hàng này của Indonesia, tương ứng 304,6 triệu USD, và là nhà cung cấp lớn thứ hai sau Nhật Bản.
Dù xuất khẩu giảm, tỷ trọng của Việt Nam vẫn ở mức đáng chú ý. Doanh nghiệp cần kiểm soát chặt nguồn gốc thép đầu vào, đặc biệt đối với nguyên liệu nhập khẩu từ Trung Quốc, đồng thời chuẩn bị chứng từ thể hiện rõ quy trình sản xuất, gia công tại Việt Nam. Đây là yếu tố quan trọng nhằm hạn chế nguy cơ bị nghi ngờ lẩn tránh biện pháp chống bán phá giá hiện hành.
Cáp thép dự ứng lực (Prestressed Concrete Steel Wire Strand) xuất khẩu sang Hoa Kỳ
Mã HS tham khảo: 7312.10
Hoa Kỳ đã áp dụng thuế chống bán phá giá và chống trợ cấp đối với dây thép dự ứng lực dùng trong bê tông nhập khẩu từ Trung Quốc. Ngoài ra, biện pháp chống bán phá giá cũng được áp dụng đối với hàng hóa từ 15 quốc gia và vùng lãnh thổ khác, trong đó có Malaysia, Indonesia, Đài Loan (Trung Quốc), Thổ Nhĩ Kỳ và Tây Ban Nha. Các biện pháp liên quan đã được gia hạn vào tháng 5/2026.
Trong 7 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu 19,3 triệu USD sản phẩm dây thép dự ứng lực sang Hoa Kỳ, tăng nhẹ 1,3% so với mức 19,1 triệu USD của cùng kỳ năm trước. Với tổng kim ngạch nhập khẩu của Hoa Kỳ đạt 54,4 triệu USD, hàng hóa Việt Nam chiếm 35,5% thị phần và đứng đầu về nguồn cung. Malaysia và Bồ Đào Nha là hai nhà cung cấp tiếp theo.
Việc Việt Nam nắm giữ vị trí dẫn đầu trong một thị trường từng áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại đối với nhiều quốc gia là yếu tố cần đặc biệt lưu tâm. Doanh nghiệp cần theo dõi diễn biến của ngành sản xuất Hoa Kỳ, xu hướng nhập khẩu và khả năng xuất hiện yêu cầu điều tra mới đối với sản phẩm này.
Nắp hộp kim loại dễ mở bằng thiếc lá, bao gồm thiếc lá mạ điện phân (Easy-open Ends of Tinplate, Including Electrolytic Tinplate) xuất khẩu sang Ấn Độ
Mã HS tham khảo: 8309.90
Ấn Độ đang áp dụng thuế chống bán phá giá đối với sản phẩm nắp hộp kim loại dễ mở làm từ thiếc lá, bao gồm thiếc lá mạ điện phân, có xuất xứ Trung Quốc.
Số liệu thương mại trong 7 tháng năm 2026 ghi nhận kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này từ Việt Nam sang Ấn Độ đạt 19,2 triệu USD, tăng 138,1% so với mức 8,1 triệu USD của cùng kỳ năm 2025. Việt Nam hiện chiếm 20,2% tổng kim ngạch nhập khẩu của Ấn Độ, tương đương 95,1 triệu USD, và giữ vị trí nhà cung cấp lớn thứ hai sau UAE.
Tốc độ tăng trưởng cao cùng thị phần tương đối lớn có thể khiến sản phẩm này trở thành đối tượng được ngành sản xuất nội địa Ấn Độ quan tâm. Đặc biệt, trong bối cảnh các đơn hàng có xu hướng dịch chuyển khỏi Trung Quốc, nguy cơ phát sinh nghi vấn về nguồn gốc hàng hóa hoặc điều tra phòng vệ thương mại cần được doanh nghiệp tính đến. Việc kiểm soát nguyên liệu, minh bạch chuỗi cung ứng và lưu trữ chứng từ theo từng công đoạn sản xuất sẽ đóng vai trò quan trọng trong quá trình chứng minh xuất xứ.
Thép mạ hợp kim nhôm – kẽm (Cold-rolled Steel Sheet Hot-dip Plated or Coated with Aluminium-zinc Alloys) xuất khẩu sang Thái Lan
Các mã HS tham khảo: 7210.61, 7212.50, 7225.99, 7226.99
Thái Lan đã áp dụng biện pháp chống bán phá giá đối với thép tấm cán nguội mạ hợp kim nhôm – kẽm nhập khẩu từ Trung Quốc trong vụ việc AD1030. Đồng thời, nước này cũng đang tiến hành điều tra chống lẩn tránh đối với sản phẩm thép mạ hợp kim kẽm – nhôm – magie có xuất xứ Trung Quốc.
Trong 7 tháng năm 2026, xuất khẩu thép tấm cán nguội mạ hoặc phủ nhúng nóng bằng hợp kim nhôm – kẽm của Việt Nam sang Thái Lan đạt 11,7 triệu USD, tăng 28,2% so với mức 9,1 triệu USD cùng kỳ năm 2025. Hàng hóa Việt Nam chiếm 30% tổng kim ngạch nhập khẩu sản phẩm cùng loại của Thái Lan, đạt 39 triệu USD. Việt Nam hiện đứng thứ ba về nguồn cung, sau Trung Quốc và Nhật Bản.
Với đà tăng trưởng xuất khẩu và tỷ trọng nhập khẩu tương đối cao, sản phẩm này cần được đưa vào diện giám sát thường xuyên. Doanh nghiệp nên chủ động rà soát nguồn nguyên liệu, công nghệ mạ và các công đoạn gia công để có thể chứng minh tính độc lập của hoạt động sản xuất tại Việt Nam khi có yêu cầu xác minh.
Vỏ bình ga xuất khẩu sang Hoa Kỳ
Mã HS tham khảo: 7311.00
Hoa Kỳ đã áp dụng thuế chống bán phá giá và chống trợ cấp đối với vỏ bình ga bằng thép nhập khẩu từ Trung Quốc, đồng thời duy trì biện pháp chống bán phá giá đối với sản phẩm từ Thái Lan kể từ năm 2019.
Kim ngạch xuất khẩu vỏ bình ga của Việt Nam sang Hoa Kỳ trong 7 tháng năm 2026 đạt 9,7 triệu USD, giảm 24,7% so với mức 12,9 triệu USD của cùng kỳ năm trước. Giá trị nhập khẩu sản phẩm này của Hoa Kỳ đạt 213,3 triệu USD, trong đó Việt Nam chiếm 4,6%.
Hiện thị phần của Việt Nam chưa ở mức cao, tuy nhiên doanh nghiệp vẫn cần theo dõi sát diễn biến thương mại để kịp thời nhận diện nguy cơ nếu xuất khẩu tăng mạnh trong thời gian tới. Việc sử dụng nguyên liệu và bán thành phẩm nhập khẩu từ Trung Quốc cần được kiểm soát chặt chẽ. Bên cạnh đó, doanh nghiệp phải bảo đảm các công đoạn sản xuất thực chất tại Việt Nam và có đủ chứng từ chứng minh nguồn gốc hàng hóa, tránh phát sinh nghi vấn về hành vi chuyển tải hoặc lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại.
Thép cọc cừ (Piling Pipe) xuất khẩu sang Canada
Các mã HS tham khảo: 7306.30, 7306.40, 7306.50
Canada hiện áp dụng thuế chống bán phá giá và chống trợ cấp đối với thép cọc cừ nhập khẩu từ Trung Quốc.
Trong 7 tháng đầu năm 2026, giá trị xuất khẩu thép cọc cừ của Việt Nam sang Canada đạt 8,2 triệu USD, tăng 58,1% so với mức 5,2 triệu USD ghi nhận trong cùng kỳ năm 2025. Việt Nam chiếm 6,3% tổng kim ngạch nhập khẩu mặt hàng này của Canada, tương đương 131,1 triệu USD, và đứng thứ tư về nguồn cung sau Hoa Kỳ, Đài Loan (Trung Quốc) và Hàn Quốc.
Đà tăng trưởng xuất khẩu hiện nay có thể làm gia tăng mức độ quan tâm của ngành sản xuất thép Canada nếu tiếp tục được duy trì. Đặc biệt, thị trường này đã có tiền lệ áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại đối với một số sản phẩm ống thép, bao gồm những mặt hàng có liên quan đến ống thép dùng làm cọc. Doanh nghiệp cần thường xuyên cập nhật chính sách nhập khẩu, diễn biến điều tra và chuẩn bị hồ sơ chứng minh xuất xứ để chủ động trước các yêu cầu xác minh.
Mặt bích bằng thép không gỉ (Stainless Steel Flanges) xuất khẩu sang Hoa Kỳ
Mã HS tham khảo: 7307.21
Từ năm 2018, Hoa Kỳ đã áp dụng đồng thời thuế chống bán phá giá và chống trợ cấp đối với mặt bích bằng thép không gỉ nhập khẩu từ Trung Quốc và Ấn Độ.
Trong 7 tháng năm 2026, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này từ Việt Nam sang Hoa Kỳ đạt 8 triệu USD, giảm 23,8% so với mức 10,5 triệu USD cùng kỳ năm 2025. Tổng giá trị nhập khẩu sản phẩm tương ứng của Hoa Kỳ đạt 144,1 triệu USD, trong đó Việt Nam chiếm 5,6%. Việt Nam hiện là nhà cung cấp lớn thứ ba, sau Ấn Độ và Ý.
Mặc dù kim ngạch xuất khẩu đang giảm, sự hiện diện của hàng hóa Việt Nam trên thị trường vẫn cần được theo dõi trong bối cảnh Hoa Kỳ đã áp dụng biện pháp đối với sản phẩm cùng loại từ Trung Quốc và Ấn Độ. Doanh nghiệp cần đặc biệt lưu ý nguồn gốc nguyên liệu chính, hạn chế phụ thuộc vào nguyên liệu Trung Quốc và chuẩn bị đầy đủ tài liệu chứng minh các công đoạn sản xuất thực tế tại Việt Nam nhằm phòng ngừa nguy cơ điều tra chống lẩn tránh.
Thép hình rỗng dùng làm kết cấu (Hollow Structural Sections) xuất khẩu sang Canada
Các mã HS tham khảo: 7306.30, 7306.50, 7306.61
Canada hiện áp dụng thuế chống bán phá giá đối với thép hình rỗng dùng làm kết cấu nhập khẩu từ Hàn Quốc và Thổ Nhĩ Kỳ.
Theo số liệu 7 tháng năm 2026, Việt Nam xuất khẩu 7,3 triệu USD thép hình rỗng dùng làm kết cấu sang Canada, tăng 36% so với mức 5,4 triệu USD của cùng kỳ năm 2025. Hàng hóa Việt Nam chiếm 5,2% tổng kim ngạch nhập khẩu sản phẩm này của Canada, đạt 139,5 triệu USD. Việt Nam hiện đứng thứ tư về nguồn cung, sau Hoa Kỳ, Ấn Độ và Nhật Bản.
Trong bối cảnh Canada đã có các biện pháp phòng vệ thương mại đối với một số sản phẩm thép nhập khẩu, việc xuất khẩu thép hình rỗng tiếp tục tăng có thể làm phát sinh nguy cơ bị xem xét điều tra. Doanh nghiệp cần kiểm soát đồng bộ nguồn gốc nguyên liệu, quy trình sản xuất, cơ cấu giá xuất khẩu và chứng từ giao dịch. Khả năng cung cấp hồ sơ đầy đủ, nhất quán sẽ là yếu tố quan trọng khi cơ quan chức năng tiến hành xác minh.
Dây vi hàn (Micro Wire for Welding) xuất khẩu sang Mexico
Các mã HS tham khảo: 7229.20, 7229.90, 8311.90
Mexico đang áp dụng thuế chống bán phá giá đối với dây vi hàn nhập khẩu từ Trung Quốc.
Trong 7 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu dây vi hàn của Việt Nam sang Mexico đạt 5,5 triệu USD, giảm 7,2% so với mức 5,9 triệu USD của cùng kỳ năm 2025. Giá trị này chiếm 7,9% tổng kim ngạch nhập khẩu mặt hàng tương ứng của Mexico, đạt 69,4 triệu USD. Việt Nam đang giữ vị trí nhà cung cấp lớn thứ tư, sau Nhật Bản, Hàn Quốc và Hoa Kỳ.
Do sản phẩm cùng loại từ Trung Quốc đang chịu thuế chống bán phá giá tại thị trường này, doanh nghiệp Việt Nam cần thận trọng trong việc lựa chọn nguồn cung nguyên liệu và bán thành phẩm. Đặc biệt, cần bảo đảm hồ sơ thể hiện rõ xuất xứ đầu vào cũng như quá trình sản xuất thực tế tại Việt Nam để hạn chế nguy cơ bị điều tra chống lẩn tránh.
Dây đai thép (Steel Strapping) xuất khẩu sang Canada
Các mã HS tham khảo: 7212.20, 7212.30, 7212.40
Kể từ tháng 1/2026, Canada đã áp dụng thuế chống bán phá giá và chống trợ cấp đối với dây đai thép nhập khẩu từ Trung Quốc, đồng thời áp dụng thuế chống bán phá giá đối với sản phẩm từ Thổ Nhĩ Kỳ. Việt Nam cũng từng là đối tượng trong cùng vụ việc điều tra, tuy nhiên quá trình điều tra đối với hàng hóa Việt Nam đã được chấm dứt do lượng nhập khẩu không đáng kể.
Trong 7 tháng năm 2026, xuất khẩu dây đai thép của Việt Nam sang Canada đạt 3,5 triệu USD, cao gấp 3,4 lần so với mức 1,1 triệu USD cùng kỳ năm 2025. Thị phần của Việt Nam đạt 4,7% trong tổng kim ngạch nhập khẩu 75,1 triệu USD của Canada. Việt Nam hiện là nhà cung cấp lớn thứ ba, sau Hoa Kỳ và Trung Quốc.
Việc sản phẩm Việt Nam từng nằm trong phạm vi điều tra, kết hợp với mức tăng trưởng xuất khẩu đáng kể trong năm 2026, là dấu hiệu cần được đặc biệt quan tâm. Nguy cơ tái điều tra hoặc mở rộng phạm vi điều tra có thể phát sinh nếu lượng hàng nhập khẩu tiếp tục gia tăng. Doanh nghiệp nên theo dõi sát diễn biến nhập khẩu, duy trì hồ sơ sản xuất và chứng từ xuất xứ đầy đủ để sẵn sàng giải trình khi có yêu cầu từ cơ quan điều tra Canada.
Thanh thép định hình làm khung trần nhà (Ceiling Steel Framing Members) xuất khẩu sang Úc
Các mã HS tham khảo: 7216.61, 7216.69, 7216.91, 7308.90
Tháng 2/2026, Úc đã áp dụng thuế chống bán phá giá và chống trợ cấp đối với thanh thép định hình làm khung trần nhà nhập khẩu từ Trung Quốc.
Trong 7 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này từ Việt Nam sang Úc đạt 3,4 triệu USD, giảm 33,3% so với mức 5,1 triệu USD của cùng kỳ năm 2025. Việt Nam chiếm 7,3% tổng kim ngạch nhập khẩu sản phẩm tương ứng của Úc, đạt 46,2 triệu USD, đồng thời là nguồn cung lớn thứ hai sau Trung Quốc.
Mặc dù xuất khẩu đang giảm, việc Úc đã áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại đối với sản phẩm cùng loại từ Trung Quốc khiến mặt hàng này vẫn cần được theo dõi. Doanh nghiệp nên chủ động kiểm tra xuất xứ nguyên liệu, phương pháp xác định giá xuất khẩu và tính đầy đủ của chứng từ sản xuất, mua bán. Đây là cơ sở để chứng minh tính hợp pháp của hoạt động sản xuất và xuất khẩu khi phát sinh yêu cầu xác minh.
Chậu rửa bằng thép không gỉ (Stainless Steel Sinks) xuất khẩu sang Canada
Mã HS tham khảo: 7324.10
Canada đã áp dụng thuế chống bán phá giá và chống trợ cấp đối với chậu rửa bằng thép không gỉ nhập khẩu từ Trung Quốc từ năm 2012.
Trong 7 tháng năm 2026, xuất khẩu chậu rửa bằng thép không gỉ của Việt Nam sang Canada đạt 3,2 triệu USD, giảm nhẹ 1,9% so với mức 3,3 triệu USD của cùng kỳ năm 2025. Với tổng kim ngạch nhập khẩu của Canada đạt 28,3 triệu USD, sản phẩm Việt Nam chiếm 11,4% thị phần và là nguồn cung lớn thứ ba, sau Trung Quốc và Hoa Kỳ.
Dù kim ngạch xuất khẩu gần như ổn định, thị phần của Việt Nam vẫn ở mức tương đối cao. Doanh nghiệp cần chú trọng kiểm soát nguồn gốc thép đầu vào, lưu trữ chứng từ nguyên liệu và tài liệu thể hiện quá trình gia công, chế biến. Việc chứng minh được xuất xứ Việt Nam một cách nhất quán sẽ giúp doanh nghiệp hạn chế nguy cơ bị nghi ngờ chuyển tải bất hợp pháp hoặc lẩn tránh các biện pháp phòng vệ thương mại đang áp dụng đối với Trung Quốc.
Kệ thép chứa pallet (Steel Pallet Racking) xuất khẩu sang Úc
Mã HS tham khảo: 7308.90
Úc đã áp dụng thuế chống bán phá giá đối với kệ thép chứa pallet nhập khẩu từ Trung Quốc và Malaysia từ năm 2019. Các biện pháp này tiếp tục được gia hạn vào năm 2024.
Trong 7 tháng năm 2026, Việt Nam xuất khẩu 2,8 triệu USD kệ thép chứa pallet sang Úc, giảm 16,4% so với mức 3,4 triệu USD cùng kỳ năm trước. Tổng kim ngạch nhập khẩu mặt hàng này của Úc đạt 59,4 triệu USD, trong đó hàng hóa Việt Nam chiếm 4,8%. Việt Nam hiện đứng thứ tư về nguồn cung, sau Trung Quốc, Malaysia và Thổ Nhĩ Kỳ.
Trong bối cảnh các quốc gia đang dẫn đầu nguồn cung đều có liên quan đến các biện pháp phòng vệ thương mại tại thị trường Úc, doanh nghiệp Việt Nam cần chủ động cập nhật chính sách nhập khẩu và diễn biến thương mại đối với mặt hàng kệ thép. Bên cạnh đó, việc rà soát mã HS, tiêu chuẩn kỹ thuật và chứng từ xuất xứ sẽ giúp giảm thiểu rủi ro khi hàng hóa được cơ quan chức năng kiểm tra hoặc yêu cầu xác minh.
Xích mắt nối và các bộ phận của xích (Articulated Link Chain and Parts Thereof) xuất khẩu sang Thổ Nhĩ Kỳ
Các mã HS tham khảo: 7315.11, 7315.12, 7315.19
Thổ Nhĩ Kỳ đã áp dụng biện pháp chống bán phá giá đối với sản phẩm xích nhập khẩu từ Trung Quốc. Sau đó, phạm vi áp dụng biện pháp được mở rộng sang hàng hóa từ Đài Loan (Trung Quốc), Malaysia, Hàn Quốc, Ấn Độ, Sri Lanka, Thái Lan và EU thông qua các cuộc điều tra chống lẩn tránh.
Trong 7 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu xích mắt nối và các bộ phận của xích từ Việt Nam sang Thổ Nhĩ Kỳ đạt 2,8 triệu USD, tăng mạnh so với mức 199,4 nghìn USD của cùng kỳ năm 2025. Việt Nam chiếm 9,7% tổng kim ngạch nhập khẩu sản phẩm này của Thổ Nhĩ Kỳ, đạt 28,9 triệu USD, và đứng thứ tư về nguồn cung sau Đức, Trung Quốc và Ý.
Mặc dù thị phần hiện tại chưa quá lớn, tiền lệ mở rộng biện pháp chống bán phá giá thông qua điều tra chống lẩn tránh tại Thổ Nhĩ Kỳ là yếu tố đáng lưu ý. Doanh nghiệp cần rà soát nguồn gốc nguyên liệu, đặc biệt là các chi tiết và bán thành phẩm nhập khẩu từ Trung Quốc, đồng thời bảo đảm có đủ tài liệu chứng minh hoạt động sản xuất độc lập tại Việt Nam.
Đinh thép (Steel Nails) xuất khẩu sang Mexico
Mã HS tham khảo: 7317.00
Mexico đã áp dụng thuế chống bán phá giá đối với đinh thép nhập khẩu từ Trung Quốc kể từ năm 2025.
Trong 7 tháng năm 2026, kim ngạch xuất khẩu đinh thép của Việt Nam sang Mexico đạt 1,9 triệu USD, tăng 688,5% so với mức 235,6 nghìn USD cùng kỳ năm 2025. Thị phần của Việt Nam đạt 8,9% trong tổng kim ngạch nhập khẩu 20,9 triệu USD của Mexico. Việt Nam hiện là nhà cung cấp lớn thứ tư, sau Trung Quốc, Thụy Sĩ và Hoa Kỳ.
Mức tăng trưởng xuất khẩu đột biến cho thấy hàng hóa Việt Nam đang mở rộng nhanh chóng sự hiện diện tại thị trường Mexico. Diễn biến này có thể thu hút sự quan tâm của các nhà sản xuất nội địa, đặc biệt khi sản phẩm tương tự từ Trung Quốc đang chịu thuế chống bán phá giá. Doanh nghiệp cần theo dõi sát lượng hàng nhập khẩu, chính sách giá bán và phản ứng của ngành sản xuất sở tại để kịp thời nhận diện nguy cơ phát sinh điều tra.
3. Nhóm hàng các sản phẩm kim loại khác
Nhôm thanh định hình (Aluminum Extrusions) xuất khẩu sang Canada
Các mã HS tham khảo: 7604.10, 7604.21, 7604.29, 7608.10, 7608.20, 7610.10, 7610.90
Canada đã áp dụng thuế chống bán phá giá và chống trợ cấp đối với nhôm thanh định hình nhập khẩu từ Trung Quốc kể từ năm 2009.
Trong 7 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu nhôm thanh định hình của Việt Nam sang Canada đạt 61,1 triệu USD, tăng 19,4% so với mức 51,2 triệu USD của cùng kỳ năm 2025. Việt Nam chiếm 8,4% tổng giá trị nhập khẩu sản phẩm cùng loại của Canada, đạt 723,3 triệu USD, qua đó giữ vị trí nhà cung cấp lớn thứ ba sau Hoa Kỳ và Trung Quốc.
Với thị phần tương đối đáng kể và xu hướng xuất khẩu tiếp tục tăng, nhôm thanh định hình là mặt hàng cần được theo dõi về nguy cơ phát sinh điều tra phòng vệ thương mại. Doanh nghiệp nên thường xuyên cập nhật tình hình của ngành sản xuất Canada, đồng thời chuẩn bị hồ sơ về nguyên liệu, chi phí sản xuất và xuất xứ để chủ động trước những thay đổi trong chính sách thương mại.
Nhôm thanh định hình (Aluminium Extrusions) xuất khẩu sang Úc
Các mã HS tham khảo: 7604.10, 7604.21, 7604.29, 7608.10, 7608.20, 7610.10, 7610.90
Úc hiện áp dụng thuế chống bán phá giá và chống trợ cấp đối với nhôm thanh định hình nhập khẩu từ Trung Quốc kể từ năm 2010, đồng thời có biện pháp phòng vệ thương mại đối với sản phẩm từ Malaysia đang trong quá trình rà soát. Đối với Việt Nam, sản phẩm này từng chịu thuế chống bán phá giá từ năm 2017, tuy nhiên biện pháp đã hết hiệu lực vào tháng 6/2022.
Kim ngạch xuất khẩu nhôm thanh định hình của Việt Nam sang Úc trong 7 tháng năm 2026 đạt 42,1 triệu USD, tăng 134,9% so với mức 17,9 triệu USD của cùng kỳ năm trước. Việt Nam chiếm 4,6% tổng kim ngạch nhập khẩu sản phẩm này của Úc, tương đương 924,7 triệu USD, và đứng thứ ba về nguồn cung sau Trung Quốc và Indonesia.
Tốc độ tăng trưởng cao, kết hợp với tiền lệ Việt Nam từng bị áp dụng biện pháp chống bán phá giá, khiến sản phẩm này tiềm ẩn nguy cơ bị Úc xem xét điều tra trở lại. Doanh nghiệp cần đặc biệt quan tâm đến nguồn gốc nhôm nguyên liệu, nhất là nguyên liệu nhập khẩu từ Trung Quốc, đồng thời duy trì hệ thống chứng từ có thể chứng minh rõ quá trình sản xuất tại Việt Nam.
Ống đồng (Copper Tube) xuất khẩu sang Canada
Mã HS tham khảo: 7411.10
Canada hiện áp dụng thuế chống bán phá giá đối với ống đồng nhập khẩu từ Trung Quốc, Hàn Quốc, Mexico, Brazil và Hy Lạp. Các biện pháp này đã được gia hạn trong năm 2025.
Trong 7 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu ống đồng của Việt Nam sang Canada đạt 32,9 triệu USD, tăng 77,6% so với mức 18,5 triệu USD của cùng kỳ năm 2025. Đáng chú ý, hàng hóa Việt Nam chiếm tới 35,1% tổng kim ngạch nhập khẩu sản phẩm này của Canada, đạt 94 triệu USD. Việt Nam hiện là nhà cung cấp lớn nhất tại thị trường này, tiếp theo là Hoa Kỳ và Trung Quốc.
Với vị thế dẫn đầu và mức tăng trưởng xuất khẩu đáng kể, ống đồng là một trong những mặt hàng cần được giám sát chặt chẽ về nguy cơ phát sinh điều tra phòng vệ thương mại tại Canada. Doanh nghiệp nên chủ động theo dõi phản ứng của ngành sản xuất nội địa, biến động nhập khẩu và các tín hiệu chính sách có thể dẫn đến việc khởi xướng điều tra trong thời gian tới.
Ferô silic mangan (Ferro-silicon Manganese) xuất khẩu sang Mexico
Mã HS tham khảo: 7202.30
Mexico hiện đang áp dụng thuế chống bán phá giá ở mức 16,59% đối với ferô silic mangan nhập khẩu từ Ukraine.
Trong 7 tháng năm 2026, Việt Nam xuất khẩu 2 triệu USD ferô silic mangan sang Mexico, giảm 45,5% so với mức 3,7 triệu USD của cùng kỳ năm 2025. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn chiếm tới 58,4% tổng kim ngạch nhập khẩu mặt hàng này của Mexico, tương đương 3,4 triệu USD, và giữ vị trí nhà cung cấp lớn nhất. Na Uy và Nam Phi là các nguồn cung tiếp theo.
Mặc dù kim ngạch xuất khẩu suy giảm, tỷ trọng áp đảo của Việt Nam vẫn có thể khiến sản phẩm này nằm trong phạm vi quan tâm của các nhà sản xuất và cơ quan chức năng Mexico. Doanh nghiệp cần bảo đảm tính minh bạch trong xác định giá xuất khẩu, chi phí sản xuất và nguồn gốc nguyên liệu. Đồng thời, hồ sơ kế toán, mua bán và sản xuất cần được lưu giữ đầy đủ để phục vụ việc giải trình nếu phát sinh điều tra.
4. Nhóm hàng vật liệu
Kính cường lực dùng cho thiết bị gia dụng (Toughened Glass for Home Appliances) xuất khẩu sang Ấn Độ
Các mã HS tham khảo: 7007.19, 7007.29, 7013.49, 7013.99, 7019.90, 7020.00
Ấn Độ đã tiến hành điều tra và đưa ra kiến nghị áp dụng thuế chống bán phá giá đối với kính cường lực dùng cho thiết bị gia dụng nhập khẩu từ Trung Quốc.
Trong 7 tháng năm 2026, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm này của Việt Nam sang Ấn Độ đạt 130,3 triệu USD, cao gấp 9,6 lần mức 13,5 triệu USD ghi nhận trong cùng kỳ năm 2025. Hàng hóa Việt Nam hiện chiếm 11,3% tổng kim ngạch nhập khẩu mặt hàng tương ứng của Ấn Độ, đạt 1,15 tỷ USD. Việt Nam đứng thứ ba về nguồn cung, sau Trung Quốc và Malaysia.
Sự gia tăng nhanh chóng của lượng hàng xuất khẩu có thể khiến sản phẩm kính cường lực dùng cho thiết bị gia dụng của Việt Nam nhận được sự quan tâm lớn hơn từ ngành sản xuất nội địa Ấn Độ. Doanh nghiệp cần theo dõi sát diễn biến thị trường, đặc biệt là các động thái liên quan đến yêu cầu bảo hộ thương mại, để kịp thời ứng phó nếu Ấn Độ xem xét khởi xướng điều tra đối với hàng hóa Việt Nam.
Kính nổi trong suốt (Clear Float Glass) xuất khẩu sang Ấn Độ
Các mã HS tham khảo: 7005.10, 7005.21, 7005.29
Ấn Độ hiện áp dụng thuế chống bán phá giá đối với kính nổi trong suốt nhập khẩu từ nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ, bao gồm Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia, Bangladesh, Pakistan, UAE và Ả Rập Xê Út. Đáng chú ý, trong tháng 9/2026, cơ quan điều tra Ấn Độ tiếp tục kiến nghị áp thuế chống trợ cấp với mức từ 8,58% đến 15,66% đối với sản phẩm cùng loại nhập khẩu từ Malaysia.
Số liệu thương mại 7 tháng năm 2026 ghi nhận kim ngạch xuất khẩu kính nổi trong suốt của Việt Nam sang Ấn Độ đạt 52,7 triệu USD, tăng 4,6% so với mức 50,4 triệu USD của cùng kỳ năm 2025. Việt Nam chiếm 29,8% tổng giá trị nhập khẩu mặt hàng này của Ấn Độ, tương đương 176,9 triệu USD, và là nguồn cung lớn thứ hai sau Malaysia.
Với thị phần gần 30% và vị trí quan trọng trong cơ cấu nhập khẩu của Ấn Độ, kính nổi trong suốt của Việt Nam cần được đưa vào diện theo dõi rủi ro. Doanh nghiệp nên thường xuyên cập nhật các vụ việc phòng vệ thương mại liên quan đến sản phẩm này tại Ấn Độ, đồng thời chuẩn bị hồ sơ chứng minh xuất xứ và giá bán để chủ động ứng phó nếu xuất hiện yêu cầu điều tra mới.
Thủy tinh nghiền (Frit) xuất khẩu sang Indonesia
Các mã HS tham khảo: 3207.20, 3207.40
Indonesia đã áp dụng thuế chống bán phá giá đối với thủy tinh nghiền nhập khẩu từ Trung Quốc kể từ năm 2017.
Trong 7 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu thủy tinh nghiền của Việt Nam sang Indonesia đạt 16,5 triệu USD, tăng 3% so với mức 16,1 triệu USD cùng kỳ năm 2025. Với tổng kim ngạch nhập khẩu đạt 31,2 triệu USD, sản phẩm Việt Nam chiếm 53% thị phần và đứng đầu về nguồn cung, tiếp theo là Trung Quốc và Tây Ban Nha.
Thị phần vượt quá một nửa tổng lượng nhập khẩu cùng với vị trí dẫn đầu khiến thủy tinh nghiền trở thành mặt hàng cần được đặc biệt chú ý. Trong trường hợp ngành sản xuất nội địa Indonesia cho rằng hàng nhập khẩu gây ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh, nguy cơ phát sinh yêu cầu điều tra phòng vệ thương mại có thể gia tăng. Doanh nghiệp Việt Nam cần rà soát chuỗi cung ứng, kiểm soát chứng từ nguyên liệu và theo dõi chính sách nhập khẩu của thị trường này để bảo vệ hoạt động xuất khẩu.
Gạch ốp lát (Ceramic Wall and Floor Coverings) xuất khẩu sang Mexico
Các mã HS tham khảo: 6907.21, 6907.22, 6907.23
Mexico đang duy trì thuế chống bán phá giá đối với gạch ốp lát nhập khẩu từ Trung Quốc. Biện pháp này đã được gia hạn vào năm 2023.
Trong 7 tháng năm 2026, xuất khẩu gạch ốp lát của Việt Nam sang Mexico đạt 15,7 triệu USD, tăng 81,1% so với mức 8,7 triệu USD của cùng kỳ năm 2025. Hàng hóa Việt Nam chiếm 11,8% tổng kim ngạch nhập khẩu mặt hàng này của Mexico, đạt 132,4 triệu USD. Việt Nam hiện là nhà cung cấp lớn thứ tư, đứng sau Tây Ban Nha, Ấn Độ và Ý.
Với tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao và thị phần đang mở rộng, gạch ốp lát là mặt hàng cần được doanh nghiệp theo dõi thường xuyên tại thị trường Mexico. Đặc biệt, việc sản phẩm cùng loại từ Trung Quốc đang chịu thuế chống bán phá giá có thể khiến cơ quan chức năng và ngành sản xuất nội địa quan tâm hơn đến sự gia tăng nhập khẩu từ các nguồn cung khác. Doanh nghiệp cần chủ động chuẩn bị hồ sơ xuất xứ, giá bán và quy trình sản xuất để sẵn sàng ứng phó nếu phát sinh điều tra phòng vệ thương mại.
5. Nhóm sản phẩm công nghiệp chế tạo
Lốp cao su dùng cho xe buýt hoặc xe tải (Tyres for Buses or Lorries – New and Retreaded) xuất khẩu sang EU
Mã HS tham khảo: 4011.20 (lốp mới); 4012.12 (lốp đắp lại).
EU hiện áp dụng thuế chống bán phá giá và thuế chống trợ cấp đối với một số dòng lốp cao su dùng cho xe buýt hoặc xe tải có xuất xứ từ Trung Quốc. Mức thuế được xác định riêng theo từng nhà sản xuất, trong đó thuế chống bán phá giá nằm trong khoảng 0–35,74 EUR/lốp, còn thuế chống trợ cấp dao động từ 3,75 đến 57,28 EUR/lốp.
Trong 7 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu khoảng 241,96 triệu USD lốp cao su dùng cho xe buýt hoặc xe tải sang EU, tăng 31,2% so với mức 184,47 triệu USD của cùng kỳ năm trước. Giá trị này tương đương khoảng 19,2% tổng kim ngạch nhập khẩu sản phẩm cùng loại của EU, đạt 1,26 tỷ USD. Việt Nam hiện là nguồn cung lớn thứ hai tại thị trường này, sau Thái Lan và xếp trên Thổ Nhĩ Kỳ, Trung Quốc và Serbia.
Quy mô xuất khẩu lớn cùng vị trí đáng kể trong cơ cấu nhập khẩu của EU khiến sản phẩm này cần được giám sát thường xuyên về nguy cơ phát sinh các vụ việc phòng vệ thương mại. Đặc biệt, trong bối cảnh EU đã áp dụng biện pháp đối với lốp xe có xuất xứ Trung Quốc, doanh nghiệp Việt Nam cần kiểm tra chặt chẽ nguồn nguyên liệu, quy trình sản xuất và tính xác thực của xuất xứ. Việc lưu trữ đầy đủ chứng từ về nguồn cung, sản xuất và xuất khẩu cũng rất cần thiết để chứng minh hàng hóa có xuất xứ Việt Nam, qua đó hạn chế nguy cơ bị điều tra chống lẩn tránh thuế.
Lốp xe tải và xe khách (Truck and Bus Tires) xuất khẩu sang Hoa Kỳ
Mã HS tham khảo: 4011.20.
Hoa Kỳ hiện duy trì thuế chống bán phá giá và chống trợ cấp đối với lốp xe tải, xe khách nhập khẩu từ Trung Quốc, đồng thời áp dụng thuế chống bán phá giá đối với sản phẩm cùng loại có xuất xứ từ Thái Lan.
Trong 7 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này từ Việt Nam sang Hoa Kỳ đạt 223,4 triệu USD, giảm 19,6% so với mức 277,7 triệu USD của cùng kỳ năm 2025. Việt Nam chiếm khoảng 13% tổng kim ngạch nhập khẩu sản phẩm cùng loại của Hoa Kỳ, tương ứng 1,71 tỷ USD. Xét về nguồn cung, Việt Nam hiện đứng thứ tư, sau Nhật Bản, Canada và Thái Lan.
Mặc dù kim ngạch xuất khẩu trong kỳ ghi nhận mức giảm, tỷ trọng của Việt Nam tại thị trường Hoa Kỳ vẫn tương đối đáng kể. Do đó, doanh nghiệp cần tiếp tục theo dõi diễn biến nhập khẩu và phản ứng của ngành sản xuất nội địa Hoa Kỳ, đặc biệt là khả năng phát sinh yêu cầu điều tra phòng vệ thương mại đối với sản phẩm có xuất xứ Việt Nam.
Lốp xe bơm hơi có đường kính từ 13 đến 22 inch (Pneumatic Tires, 13 to 22 Inches) xuất khẩu sang Mexico
Mã HS tham khảo: 4011.10, 4011.20.
Mexico đã tiến hành điều tra chống bán phá giá đối với lốp xe bơm hơi có đường kính từ 13 đến 22 inch nhập khẩu từ Trung Quốc kể từ tháng 4/2023 và bắt đầu áp dụng thuế chống bán phá giá tạm thời trong năm 2024.
Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm này của Việt Nam sang Mexico trong 7 tháng đầu năm 2026 đạt 195 triệu USD, tăng 89,9% so với mức 102,7 triệu USD cùng kỳ năm 2025. Giá trị xuất khẩu của Việt Nam chiếm 14,8% tổng kim ngạch nhập khẩu sản phẩm tương ứng của Mexico, đạt 1,32 tỷ USD. Việt Nam hiện là nhà cung cấp lớn thứ hai tại thị trường này, chỉ sau Hoa Kỳ.
Mức tăng trưởng xuất khẩu cao đi kèm thị phần đáng kể có thể khiến sản phẩm thu hút sự chú ý của ngành sản xuất trong nước và cơ quan điều tra Mexico. Doanh nghiệp cần chủ động theo dõi nguy cơ bị khởi xướng điều tra phòng vệ thương mại, đồng thời rà soát hồ sơ xuất xứ và quy trình sản xuất để bảo đảm khả năng giải trình khi có yêu cầu.
Máy giặt gia dụng cỡ lớn (Large Residential Washers) xuất khẩu sang Hoa Kỳ
Mã HS tham khảo: 8450.20.
Hoa Kỳ đã áp dụng thuế chống bán phá giá đối với máy giặt dân dụng cỡ lớn nhập khẩu từ Hàn Quốc, Trung Quốc và Mexico. Đối với biện pháp tự vệ toàn cầu từng được áp dụng cho sản phẩm này, thời hạn hiệu lực đã kết thúc vào tháng 2/2023.
Trong 7 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu 93,5 triệu USD máy giặt gia dụng cỡ lớn sang Hoa Kỳ, giảm 37,4% so với mức 149,4 triệu USD của cùng kỳ năm 2025. Kim ngạch của Việt Nam chiếm khoảng 15,3% tổng giá trị nhập khẩu mặt hàng này của Hoa Kỳ, tương đương 609,4 triệu USD. Việt Nam hiện đứng thứ tư trong số các nhà cung cấp, sau Thái Lan, Mexico và Trung Quốc.
Dù giá trị xuất khẩu giảm, tỷ trọng của Việt Nam tại thị trường Hoa Kỳ vẫn ở mức cần lưu ý. Doanh nghiệp nên kiểm soát chặt chẽ nguồn cung các bộ phận và nguyên liệu đầu vào, đặc biệt là những thành phần chính nhập khẩu từ Trung Quốc. Đồng thời, cần bảo đảm hoạt động sản xuất thực chất tại Việt Nam và lưu giữ hồ sơ chứng minh quá trình gia công, chế biến để giảm thiểu nguy cơ bị điều tra chống lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại.
Phương tiện di chuyển cá nhân tốc độ thấp (Low-Speed Personal Transportation Vehicles) xuất khẩu sang Hoa Kỳ
Mã HS tham khảo: 8703.10.
Từ tháng 8/2025, Hoa Kỳ đã áp dụng đồng thời thuế chống bán phá giá và thuế chống trợ cấp đối với phương tiện di chuyển cá nhân tốc độ thấp nhập khẩu từ Trung Quốc.
Trong 7 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm này của Việt Nam sang Hoa Kỳ đạt 72,7 triệu USD, tăng 373,8% so với mức 15,3 triệu USD của cùng kỳ năm trước. Đáng chú ý, hàng hóa Việt Nam chiếm tới 72,2% tổng kim ngạch nhập khẩu sản phẩm cùng loại của Hoa Kỳ, tương ứng khoảng 100,7 triệu USD. Việt Nam hiện là nhà cung cấp lớn nhất tại thị trường này, tiếp theo là Thái Lan và Đài Loan (Trung Quốc).
Tỷ trọng nhập khẩu áp đảo cùng tốc độ tăng trưởng đột biến là những yếu tố có thể làm gia tăng sự quan tâm của ngành sản xuất nội địa Hoa Kỳ đối với sản phẩm này. Doanh nghiệp cần theo dõi sát nguy cơ khởi xướng điều tra phòng vệ thương mại, đồng thời chuẩn bị đầy đủ hồ sơ về nguồn gốc linh kiện, quy trình sản xuất và giá thành để sẵn sàng cung cấp thông tin khi cần thiết.
Xe đạp điện (Electric Bicycles) xuất khẩu sang Hoa Kỳ
Mã HS tham khảo: 8711.60.
Hiện Hoa Kỳ chưa áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại đối với mặt hàng xe đạp điện.
Trong 7 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu 27,5 triệu USD xe đạp điện sang Hoa Kỳ, giảm 3,6% so với mức 28,5 triệu USD của cùng kỳ năm 2025. Kim ngạch này chiếm khoảng 22% tổng giá trị nhập khẩu sản phẩm cùng loại của Hoa Kỳ, đạt 124,8 triệu USD. Việt Nam đang là nguồn cung lớn thứ hai tại thị trường này, sau Đài Loan (Trung Quốc).
Mặc dù chưa có biện pháp phòng vệ thương mại được áp dụng đối với sản phẩm, tỷ trọng hàng Việt Nam trong tổng nhập khẩu của Hoa Kỳ vẫn tương đối cao. Vì vậy, doanh nghiệp cần duy trì việc theo dõi diễn biến thị trường và khả năng phát sinh yêu cầu điều tra từ phía Hoa Kỳ trong thời gian tới.
Bút chì (Pencils) xuất khẩu sang Mexico
Mã HS tham khảo: 9609.10.
Mexico đang áp dụng thuế chống bán phá giá đối với bút chì nhập khẩu từ Trung Quốc.
Trong 7 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu bút chì của Việt Nam sang Mexico đạt 10,4 triệu USD, tăng 27,6% so với mức 8,1 triệu USD cùng kỳ năm 2025. Hàng hóa Việt Nam chiếm 32,1% tổng kim ngạch nhập khẩu sản phẩm cùng loại của Mexico, tương ứng 32,3 triệu USD. Với kết quả này, Việt Nam là nhà cung cấp lớn nhất tại thị trường Mexico, đứng trước Trung Quốc và Philippines.
Thị phần dẫn đầu cùng vị thế cạnh tranh nổi bật có thể khiến bút chì xuất khẩu từ Việt Nam trở thành đối tượng được ngành sản xuất nội địa Mexico quan tâm. Doanh nghiệp cần tiếp tục theo dõi nguy cơ phát sinh điều tra phòng vệ thương mại và bảo đảm hồ sơ về nguồn gốc nguyên liệu, quy trình sản xuất được quản lý đầy đủ.
Khung gầm xe công-ten-nơ (Container Chassis) xuất khẩu sang Canada
Mã HS tham khảo: 8716.39.
Canada đã áp dụng thuế chống bán phá giá và chống trợ cấp đối với khung gầm xe công-ten-nơ nhập khẩu từ Trung Quốc từ năm 2022. Trong giai đoạn 2024–2025, cơ quan chức năng Canada cũng tiến hành điều tra chống lẩn tránh đối với sản phẩm nhập khẩu từ Việt Nam, nhưng kết luận rằng không có hành vi lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại.
Trong 7 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này của Việt Nam sang Canada đạt 2,7 triệu USD, tăng đáng kể so với mức 416,5 nghìn USD của cùng kỳ năm 2025. Việt Nam chiếm khoảng 3,2% tổng kim ngạch nhập khẩu khung gầm xe công-ten-nơ của Canada, tương đương 86,3 triệu USD. Việt Nam hiện đứng thứ ba trong nhóm nhà cung cấp lớn nhất, sau Hoa Kỳ và Trung Quốc.
Mặc dù thị phần hiện tại chưa cao, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu là yếu tố doanh nghiệp cần lưu ý. Đặc biệt, do Canada từng xem xét vấn đề chống lẩn tránh đối với mặt hàng này từ Việt Nam, doanh nghiệp nên duy trì hồ sơ chứng minh xuất xứ, nguồn nguyên liệu và các công đoạn sản xuất để chủ động ứng phó nếu cơ quan điều tra tiếp tục quan tâm đến sản phẩm.
Lốp radial có hoặc không kèm săm và yếm lốp, bao gồm lốp không săm (Radial Tyres, With or Without Tubes and/or Flaps, Including Tubeless Tyres) xuất khẩu sang Ấn Độ
Mã HS tham khảo: 4011.20, 4012.90, 4013.10.
Ấn Độ đã áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại đối với lốp radial có hoặc không kèm săm và yếm lốp, bao gồm lốp không săm nhập khẩu từ Trung Quốc. Ngoài ra, nước này cũng đã xem xét việc áp dụng thuế chống bán phá giá đối với lốp radial có xuất xứ từ Thái Lan.
Trong 7 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu khoảng 4 triệu USD sản phẩm này sang Ấn Độ, tăng 82,3% so với mức 2,2 triệu USD của cùng kỳ năm 2025. Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam chiếm 21,2% tổng giá trị nhập khẩu sản phẩm cùng loại của Ấn Độ, đạt khoảng 18,7 triệu USD. Việt Nam hiện là nhà cung cấp lớn thứ hai tại thị trường này, sau Thái Lan.
Với tốc độ tăng trưởng cao và tỷ trọng tương đối lớn trong tổng nhập khẩu, mặt hàng lốp radial cần được đưa vào danh sách theo dõi về nguy cơ phát sinh điều tra phòng vệ thương mại tại Ấn Độ. Doanh nghiệp nên thường xuyên cập nhật chính sách nhập khẩu và chuẩn bị hồ sơ về xuất xứ, nguồn nguyên liệu cũng như quy trình sản xuất để hạn chế rủi ro khi có yêu cầu xác minh.
Xe đạp trẻ em (Children’s Bicycles) xuất khẩu sang Mexico
Mã HS tham khảo: 8712.00.
Mexico hiện áp dụng thuế chống bán phá giá đối với xe đạp trẻ em nhập khẩu từ Trung Quốc.
Trong 7 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu xe đạp trẻ em của Việt Nam sang Mexico đạt 3,3 triệu USD, tăng mạnh so với mức 1,1 triệu USD cùng kỳ năm 2025. Giá trị này chiếm khoảng 11,2% tổng kim ngạch nhập khẩu sản phẩm cùng loại của Mexico, đạt 29,7 triệu USD. Việt Nam hiện là nhà cung cấp lớn thứ hai tại thị trường này, sau Trung Quốc.
Mức tăng trưởng xuất khẩu đáng kể cùng tỷ trọng nhập khẩu tương đối cao cho thấy sản phẩm cần được tiếp tục giám sát về nguy cơ bị điều tra phòng vệ thương mại. Trong bối cảnh đơn hàng có xu hướng dịch chuyển khỏi Trung Quốc, doanh nghiệp cần đặc biệt chú trọng kiểm soát nguồn nguyên liệu, minh bạch hóa chuỗi cung ứng và lưu giữ hồ sơ sản xuất, xuất xứ để chứng minh hàng hóa thực sự được sản xuất tại Việt Nam.
6. Nhóm hóa chất, nhựa và sản phẩm nhựa
Hạt nhựa PET (Polyethylene Terephthalate) xuất khẩu sang Ấn Độ
Mã HS tham khảo: 3907.61, 3907.69.
Ấn Độ đang áp dụng thuế chống bán phá giá đối với hạt nhựa PET nhập khẩu từ Trung Quốc; biện pháp này đã được gia hạn trong năm 2026.
Trong 7 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu hạt nhựa PET của Việt Nam sang Ấn Độ đạt 103,4 triệu USD, tăng 148,6% so với mức 41,6 triệu USD của cùng kỳ năm 2025. Hàng hóa Việt Nam chiếm khoảng 38,6% tổng kim ngạch nhập khẩu sản phẩm cùng loại của Ấn Độ, tương ứng 268 triệu USD. Việt Nam hiện giữ vị trí nhà cung cấp lớn nhất, tiếp theo là Trung Quốc và Thái Lan.
Với quy mô xuất khẩu lớn, thị phần cao và tốc độ tăng trưởng mạnh, hạt nhựa PET là một trong những mặt hàng cần được ưu tiên theo dõi về rủi ro phòng vệ thương mại tại Ấn Độ. Doanh nghiệp cần chủ động đánh giá khả năng bị khởi xướng điều tra, đồng thời rà soát nguồn nguyên liệu đầu vào, chi phí sản xuất và hồ sơ xuất xứ để bảo đảm khả năng giải trình khi cơ quan chức năng yêu cầu.
Hạt nhựa PET (Polyethylene Terephthalate) xuất khẩu sang Malaysia
Mã HS tham khảo: 3907.61.
Từ tháng 5/2025, Malaysia áp dụng thuế chống bán phá giá trong thời hạn 5 năm đối với hạt nhựa PET nhập khẩu từ Trung Quốc, với mức thuế từ 2,29% đến 11,74%, và Indonesia, với mức thuế 37,44%.
Trong 7 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu hạt nhựa PET của Việt Nam sang Malaysia đạt 12,2 triệu USD, tăng mạnh so với mức 3,3 triệu USD của cùng kỳ năm trước. Kim ngạch của Việt Nam chiếm 15,1% tổng giá trị nhập khẩu sản phẩm cùng loại của Malaysia, tương đương 81 triệu USD. Việt Nam hiện là nhà cung cấp lớn thứ hai tại thị trường này, sau Trung Quốc.
Sự gia tăng nhanh về kim ngạch và thị phần khiến mặt hàng hạt nhựa PET cần được theo dõi chặt chẽ về nguy cơ phát sinh điều tra phòng vệ thương mại tại Malaysia. Doanh nghiệp nên kiểm tra nguồn gốc nguyên liệu, rà soát các giao dịch trong chuỗi cung ứng và lưu trữ đầy đủ chứng từ sản xuất, xuất xứ nhằm chứng minh tính độc lập của hoạt động sản xuất tại Việt Nam.
Theophylline và caffeine (Theophylline & Caffeine) xuất khẩu sang Ấn Độ
Mã HS tham khảo: 2939.30.
Ấn Độ đã áp dụng thuế chống bán phá giá đối với theophylline và caffeine nhập khẩu từ Trung Quốc.
Trong 7 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu 8,2 triệu USD theophylline và caffeine sang Ấn Độ, tăng 4,8% so với mức 7,8 triệu USD của cùng kỳ năm 2025. Kim ngạch này chiếm khoảng 29% tổng giá trị nhập khẩu sản phẩm cùng loại của Ấn Độ, đạt 28,1 triệu USD. Việt Nam hiện là nhà cung cấp lớn nhất tại thị trường này, tiếp theo là Trung Quốc và Đức.
Mặc dù mức tăng trưởng xuất khẩu không quá cao, thị phần gần 30% và vị trí dẫn đầu về nguồn cung là những yếu tố đáng chú ý. Doanh nghiệp xuất khẩu cần tiếp tục theo dõi diễn biến thị trường và các kiến nghị từ ngành sản xuất nội địa Ấn Độ để kịp thời nhận diện nguy cơ phát sinh vụ việc phòng vệ thương mại.
Màng nhựa lót bê tông (Concrete Underlay Film) xuất khẩu sang Úc
Mã HS tham khảo: 3920.10, 3921.90.
Úc đã áp dụng thuế chống bán phá giá đối với màng nhựa lót bê tông nhập khẩu từ Malaysia kể từ tháng 12/2021 và từng tiến hành điều tra chống lẩn tránh liên quan đến sản phẩm này.
Trong 7 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này của Việt Nam sang Úc đạt 6,6 triệu USD, tăng 33,3% so với mức 4,9 triệu USD của cùng kỳ năm 2025. Tuy nhiên, giá trị xuất khẩu của Việt Nam mới chiếm khoảng 2,3% tổng kim ngạch nhập khẩu sản phẩm cùng loại của Úc, đạt 282,7 triệu USD. Việt Nam hiện chưa thuộc nhóm năm nhà cung cấp lớn nhất tại thị trường này; các nguồn cung đáng chú ý gồm Trung Quốc, Malaysia và nhóm hàng nhập khẩu chưa xác định được quốc gia xuất xứ.
Tỷ trọng hiện tại của Việt Nam còn tương đối thấp, song doanh nghiệp vẫn cần theo dõi diễn biến xuất khẩu trong thời gian tới, nhất là khi kim ngạch có dấu hiệu tăng. Việc cập nhật chính sách thương mại của Úc, duy trì hồ sơ truy xuất nguồn gốc và đa dạng hóa thị trường tiêu thụ sẽ giúp doanh nghiệp chủ động hơn trước những thay đổi về chính sách nhập khẩu.
Hạt nhựa PET (Polyethylene Terephthalate Resin) xuất khẩu sang Canada
Mã HS tham khảo: 3907.61, 3907.69.
Trong năm 2025, Canada đã khởi xướng điều tra chống bán phá giá đối với hạt nhựa PET nhập khẩu từ Trung Quốc và Pakistan, đồng thời tiến hành điều tra chống trợ cấp đối với sản phẩm có xuất xứ Trung Quốc.
Trong 7 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu hạt nhựa PET của Việt Nam sang Canada đạt 6 triệu USD, cao gấp 27,1 lần so với mức 222,9 nghìn USD của cùng kỳ năm 2025. Kim ngạch này chiếm khoảng 5,4% tổng giá trị nhập khẩu sản phẩm cùng loại của Canada, tương đương 111,1 triệu USD. Việt Nam hiện đứng thứ năm trong danh sách các nhà cung cấp, sau Hoa Kỳ, Ấn Độ, Pakistan và Đài Loan (Trung Quốc).
Mức tăng trưởng đột biến có thể khiến hàng hóa Việt Nam nhận được sự chú ý lớn hơn từ cơ quan chức năng Canada. Doanh nghiệp cần rà soát toàn bộ quy trình sản xuất, xác định mức độ phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu từ Trung Quốc và xây dựng hồ sơ truy xuất nguồn gốc theo từng công đoạn. Đây là cơ sở quan trọng để chứng minh xuất xứ hàng hóa và chủ động xử lý nếu phát sinh nghi vấn lẩn tránh thuế.
7. Nhóm xơ, sợi và hàng dệt
Xơ polyester tổng hợp dạng ngắn (Polyester Staple Fiber) xuất khẩu sang Mexico
Mã HS tham khảo: 5503.20.
Mexico đang áp dụng thuế chống bán phá giá đối với xơ polyester tổng hợp dạng ngắn nhập khẩu từ Trung Quốc. Biện pháp này đã được gia hạn vào tháng 8/2025.
Trong 7 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu xơ polyester tổng hợp dạng ngắn của Việt Nam sang Mexico đạt 27,6 triệu USD, tăng 122,2% so với mức 12,4 triệu USD cùng kỳ năm 2025. Việt Nam chiếm khoảng 39,3% tổng kim ngạch nhập khẩu sản phẩm cùng loại của Mexico, tương ứng 70,1 triệu USD. Với kết quả này, Việt Nam đang là nhà cung cấp lớn nhất tại thị trường Mexico, tiếp theo là Hoa Kỳ và Trung Quốc.
Thị phần dẫn đầu cùng tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao khiến xơ polyester tổng hợp dạng ngắn trở thành mặt hàng có mức độ rủi ro đáng chú ý. Doanh nghiệp cần theo dõi sát khả năng Mexico khởi xướng điều tra phòng vệ thương mại đối với sản phẩm từ Việt Nam, đồng thời chuẩn bị hồ sơ về nguồn nguyên liệu, hoạt động sản xuất và xuất xứ để có thể giải trình khi phát sinh yêu cầu.
Sợi filament polyester dún (Polyester Filament Textured Textile) xuất khẩu sang Mexico
Mã HS tham khảo: 5402.33.
Mexico đang áp dụng thuế chống bán phá giá đối với sợi filament polyester dún nhập khẩu từ Trung Quốc và Ấn Độ.
Trong 7 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu 5,1 triệu USD sản phẩm này sang Mexico, tăng 8,4% so với mức 4,7 triệu USD của cùng kỳ năm 2025. Giá trị xuất khẩu của Việt Nam chiếm khoảng 5,8% tổng kim ngạch nhập khẩu sản phẩm cùng loại của Mexico, đạt 86,8 triệu USD. Việt Nam hiện là nhà cung cấp lớn thứ hai tại thị trường này, sau Trung Quốc.
Mặc dù thị phần chưa quá lớn, Việt Nam đang giữ vị trí đáng kể trong nhóm các nguồn cung của Mexico và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng so với cùng kỳ. Doanh nghiệp cần duy trì việc theo dõi nguy cơ phát sinh điều tra phòng vệ thương mại, đặc biệt trong trường hợp lượng hàng xuất khẩu tiếp tục tăng hoặc có sự thay đổi đáng kể về cơ cấu nguồn cung.
Sợi filament tổng hợp (Synthetic Filament Yarn) xuất khẩu sang Indonesia
Mã HS tham khảo: 5402.33, 5402.46.
Indonesia từng điều tra chống bán phá giá đối với sợi filament tổng hợp, bao gồm POY và DTY, nhập khẩu từ Trung Quốc. Đến tháng 6/2025, Chính phủ Indonesia quyết định chưa áp dụng thuế đối với sản phẩm này. Tuy nhiên, ngành sản xuất trong nước vẫn tiếp tục đề nghị xem xét áp dụng biện pháp.
Trong 7 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu sợi filament tổng hợp của Việt Nam sang Indonesia đạt 5,3 triệu USD, tăng 9,7% so với mức 4,8 triệu USD cùng kỳ năm 2025. Việt Nam chiếm khoảng 2,6% tổng kim ngạch nhập khẩu sản phẩm cùng loại của Indonesia, đạt 204,3 triệu USD. Xét về nguồn cung, Việt Nam đứng thứ ba, sau Trung Quốc và Đài Loan (Trung Quốc).
Dù thị phần hiện tại còn khiêm tốn, việc ngành sản xuất Indonesia tiếp tục kiến nghị áp dụng biện pháp đối với mặt hàng này cho thấy nguy cơ điều tra vẫn cần được quan tâm. Doanh nghiệp Việt Nam nên theo dõi diễn biến chính sách, rà soát nguồn cung nguyên liệu và chuẩn bị đầy đủ hồ sơ sản xuất, chứng từ truy xuất nguồn gốc để chứng minh xuất xứ hàng hóa khi cần thiết.
8. Một số mặt hàng khác
Khung nhôm dùng cho tấm pin và mô-đun năng lượng mặt trời (Aluminium Frames for Solar Panels and Modules) xuất khẩu sang Ấn Độ
Mã HS tham khảo: 7610.90, 7616.99.
Từ tháng 12/2024, Ấn Độ đã áp dụng thuế chống bán phá giá đối với khung nhôm dùng cho tấm pin năng lượng mặt trời nhập khẩu từ Trung Quốc.
Trong 7 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu khung nhôm dùng cho tấm pin và mô-đun năng lượng mặt trời của Việt Nam sang Ấn Độ đạt 187,4 triệu USD, tăng 132,1% so với mức 80,8 triệu USD của cùng kỳ năm 2025. Hàng hóa Việt Nam chiếm khoảng 19,6% tổng kim ngạch nhập khẩu sản phẩm cùng loại của Ấn Độ, tương ứng 957,7 triệu USD. Việt Nam hiện là nhà cung cấp lớn thứ hai tại thị trường này, chỉ sau Trung Quốc.
Quy mô xuất khẩu lớn và tốc độ tăng trưởng cao có thể làm gia tăng sự quan tâm của ngành sản xuất trong nước Ấn Độ đối với mặt hàng này. Doanh nghiệp cần chủ động theo dõi nguy cơ khởi xướng điều tra phòng vệ thương mại, đồng thời kiểm soát nguồn nguyên liệu, quy trình gia công và hồ sơ chứng minh xuất xứ nhằm hạn chế rủi ro phát sinh trong hoạt động xuất khẩu.
Nến và các sản phẩm tương tự (Candles, Tapers and the Like) xuất khẩu sang EU
Mã HS tham khảo: 3406.00.
Ngày 27/01/2026, EU chính thức áp dụng thuế chống bán phá giá đối với nến và các sản phẩm tương tự có xuất xứ Trung Quốc theo Quy định thực thi (EU) 2026/157. Mức thuế được ấn định trong khoảng 56,7%–60,3%.
Trong 7 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu nến và các sản phẩm tương tự của Việt Nam sang EU đạt khoảng 106,64 triệu USD, tăng 421,3% so với mức 20,46 triệu USD của cùng kỳ năm 2025. Giá trị này chiếm khoảng 51,7% tổng kim ngạch nhập khẩu sản phẩm cùng loại của EU, tương đương 206,09 triệu USD. Như vậy, Việt Nam hiện cung cấp hơn một nửa lượng hàng nhập khẩu thuộc nhóm sản phẩm này của EU.
Thị phần vượt 50% cùng tốc độ tăng trưởng xuất khẩu đột biến có thể khiến sản phẩm trở thành đối tượng được ngành sản xuất nội địa EU quan tâm. Doanh nghiệp cần theo dõi sát các phản ứng từ phía nhà sản xuất và cơ quan chức năng EU, đồng thời bảo đảm tính minh bạch của chuỗi cung ứng, nguồn nguyên liệu và hoạt động sản xuất tại Việt Nam để chủ động ứng phó nếu phát sinh điều tra phòng vệ thương mại.
Dứa ngâm nước đường (Pineapple in Syrup) xuất khẩu sang Mexico
Mã HS tham khảo: 2008.20.
Từ ngày 20/6/2026, Mexico áp dụng thuế chống bán phá giá ở mức 0,93 USD/kg đối với dứa ngâm nước đường nhập khẩu từ Thái Lan. Biện pháp này có thời hạn 5 năm.
Trong 7 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu dứa ngâm nước đường của Việt Nam sang Mexico đạt 7,6 triệu USD, cao gấp 3,9 lần so với mức 1,9 triệu USD của cùng kỳ năm 2025. Kim ngạch của Việt Nam chiếm khoảng 21,5% tổng giá trị nhập khẩu sản phẩm cùng loại của Mexico, đạt 35,3 triệu USD. Việt Nam hiện là nhà cung cấp lớn thứ hai tại thị trường này, sau Thái Lan.
Mức tăng trưởng cao và thị phần đáng kể có thể làm gia tăng nguy cơ sản phẩm nhận được sự quan tâm từ ngành sản xuất nội địa Mexico. Doanh nghiệp cần theo dõi các diễn biến liên quan đến biện pháp đang áp dụng đối với hàng hóa Thái Lan, đồng thời cập nhật chính sách nhập khẩu và cân nhắc đa dạng hóa thị trường nhằm giảm thiểu rủi ro khi môi trường thương mại thay đổi.
Bìa hồ sơ bằng giấy (Paper File Folders) xuất khẩu sang Hoa Kỳ
Mã HS tham khảo: 4820.30.
Hoa Kỳ đã áp dụng thuế chống bán phá giá đối với bìa hồ sơ bằng giấy nhập khẩu từ Sri Lanka, đồng thời áp dụng thuế chống trợ cấp đối với sản phẩm có xuất xứ Campuchia trong giai đoạn 2025–2026.
Trong 7 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu bìa hồ sơ bằng giấy của Việt Nam sang Hoa Kỳ đạt 10,2 triệu USD, giảm 14,8% so với mức 12 triệu USD của cùng kỳ năm 2025. Tuy nhiên, hàng hóa Việt Nam vẫn chiếm khoảng 14% tổng kim ngạch nhập khẩu sản phẩm cùng loại của Hoa Kỳ, tương ứng 72,7 triệu USD. Việt Nam hiện là nhà cung cấp lớn thứ hai tại thị trường này, sau Mexico.
Mặc dù kim ngạch xuất khẩu giảm, tỷ trọng của Việt Nam trong tổng nhập khẩu vẫn ở mức đáng kể. Vì vậy, doanh nghiệp cần tiếp tục theo dõi diễn biến thị trường Hoa Kỳ và các động thái liên quan đến biện pháp phòng vệ thương mại đối với sản phẩm tương tự, đồng thời duy trì hồ sơ đầy đủ về nguồn nguyên liệu và quy trình sản xuất.
Đệm (Mattresses) xuất khẩu sang Canada
Mã HS tham khảo: 9404.21, 9404.29, 9404.90.
Canada đã áp dụng thuế chống bán phá giá và thuế chống trợ cấp đối với đệm nằm nhập khẩu từ Trung Quốc kể từ năm 2022.
Trong 7 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu 7 triệu USD đệm nằm sang Canada, giảm 33,7% so với mức 10,6 triệu USD của cùng kỳ năm 2025. Kim ngạch này chiếm khoảng 6,7% tổng giá trị nhập khẩu sản phẩm cùng loại của Canada, tương đương 105 triệu USD. Việt Nam hiện là nhà cung cấp lớn thứ năm tại thị trường này, sau Hoa Kỳ, Mexico, Trung Quốc và Indonesia.
Mặc dù tỷ trọng nhập khẩu của Việt Nam chưa ở mức cao, doanh nghiệp vẫn cần theo dõi sát biến động xuất khẩu để kịp thời nhận diện rủi ro nếu kim ngạch tăng trở lại. Đặc biệt, cần kiểm soát nguồn cung các nguyên liệu và bộ phận chính, tránh phụ thuộc thiếu kiểm soát vào nguồn hàng nhập khẩu từ Trung Quốc. Việc lưu trữ hồ sơ mua nguyên liệu, sản xuất và xuất xứ đầy đủ sẽ giúp doanh nghiệp chủ động hơn nếu cơ quan chức năng Canada tiến hành xác minh hoặc điều tra.
Để đảm bảo lợi ích chính đáng của mình, các doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu sản phẩm nên tìm hiểu quy định, trình tự điều tra của các vụ việc phòng vệ thương mại và chủ động liên hệ với các công ty luật Việt Nam có kinh nghiệm chuyên môn trong lĩnh vực chống bán phá giá, phòng vệ thương mại để nhận được hỗ trợ kịp thời.
ASL Law là công ty luật độc lập và cung cấp đầy đủ dịch vụ được tín nhiệm cao của Việt Nam gồm các luật sư giàu kinh nghiệm và tài năng. ASL Law được Legal500, Asia Law, WTR và Asia Business Law Journal xếp hạng là Công ty Luật hàng đầu tại Việt Nam. Có trụ sở tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, mục đích chính của ASL LAW là cung cấp lời tư vấn và giải pháp lý thiết thực, hiệu quả và hợp pháp nhất cho khách hàng trong nước và quốc tế. Nếu cần sự trợ giúp, Quý khách hàng có thể gửi email liên hệ tới [email protected].
Liên hệ với công ty Luật ASL LAW để được hướng dẫn về Chống Bán Phá giá Và Phòng Vệ Thương Mại.
BÀI VIẾT HỮU ÍCH LIÊN QUAN
English
中文 (中国)
日本語

