vướng mắc trong giải quyết vụ việc dân sự không có điều luật giải quyết tại Việt Nam, vướng mắc trong giải quyết vụ việc dân sự không có điều luật giải quyết , giải quyết vụ việc dân sự không có điều luật giải quyết tại Việt Nam, nguyên tắc giải quyết vụ án dân sự áp dụng các phương thức thay thế khi không có điều luật giải quyết tại Việt Nam, thứ tự giải quyết vụ án dân sự khi không có điều luật áp dụng tại Việt Nam,

Vướng mắc trong giải quyết vụ việc dân sự không có điều luật giải quyết tại Việt Nam

Việc Việt Nam là quốc gia tuân theo hệ thống dân luật (civil law) cung cấp một khung pháp lý rõ ràng, ổn định và minh bạch hơn so với các quốc gia thuộc hệ thống thông luật (common law). Tuy nhiên, điều này cũng tạo nên một số trở ngại, khó khăn khi xã hội nảy sinh những tranh chấp, vướng mắc không được quy định phương pháp giải quyết rõ ràng trong các văn bản quy phạm pháp luật. Vậy, trong các trường hợp này thì các cơ quan tiến hành tố tụng sẽ căn cứ vào quy định nào để giải quyết vụ việc dân sự?

Để điều chỉnh các quan hệ xã hội mới phát sinh, chưa từng có tiền lệ, Bộ luật dân sự năm 2015 số 91/2015/QH13 (“Bộ luật dân sự năm 2015”) đã có quy định tại khoản 2 Điều 14 rằng Tòa án không được từ chối giải quyết vụ, việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng.

Trong trường hợp này, quy định tại Điều 5 về áp dụng tập quán và Điều 6 về áp dụng tương tự pháp luật sẽ được áp dụng.

Tương tự, khoản 2 Điều 4 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 số 92/2015/QH13 (“Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015”) cũng có quy định Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng.

Việc giải quyết vụ việc dân sự chưa có điều luật để áp dụng được thực hiện theo các nguyên tắc do Bộ luật dân sự năm 2015 và Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định.

Tại bài viết này, ASL LAW sẽ phân tích, làm rõ những yếu tố cơ bản và quan trọng trong việc áp dụng tập quán, áp dụng tương tự pháp luật hoặc áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ, lẽ công bằng khi không có điều luật giải quyết vụ việc dân sự tại Việt Nam, qua đó làm nổi bật sự khác biệt giữa hệ thống dân luật và thông luật cũng như những điểm ưu việt mà hệ thống tư pháp của các quốc gia có thể khai thác.

Nguyên tắc giải quyết, thứ tự áp dụng các phương thức thay thế khi không có điều luật giải quyết tại Việt Nam

Khi không có điều luật áp dụng, theo quy định tại Điều 45 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, thứ tự Tòa án Việt Nam áp dụng các phương thức thay thế được tiến hành như sau:

  1. Áp dụng án lệ: Tòa án áp dụng tập quán để giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp các bên không có thỏa thuận và pháp luật không có quy định. Tập quán áp dụng không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật dân sự năm 2015.
  2. Áp dụng tương tự pháp luật: Trong trường hợp pháp luật không có quy định, các bên không có thỏa thuận và không có tập quán để áp dụng thì Tòa án áp dụng tương tự pháp luật.
  3. Áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ, lẽ công bằng: Trong trường hợp không có quy định pháp luật, thỏa thuận, tập quán cũng như tương tự pháp luật để áp dụng, Tòa án áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ, lẽ công bằng để giải quyết vụ việc dân sự.

Trong trường hợp không có pháp luật điều chỉnh, cơ quan tiến hành tố tụng không được quyền lựa chọn phương thức thay thế để tiến hành xử lý, mà cần phải tuân thủ theo thứ tự trên để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan được bảo vệ, thiết lập một hệ thống tư pháp công bằng, nghiêm chính, trật tự kỷ cương xã hội.

Áp dụng tập quán để giải quyết vụ việc dân sự không có điều luật quy định

Khoản 1 Điều 5 Bộ luật dân sự năm 2015 có định nghĩa về tập quán là quy tắc xử sự có nội dung rõ ràng để xác định quyền, nghĩa vụ của cá nhân, pháp nhân trong quan hệ dân sự cụ thể, được hình thành và lặp đi lặp lại nhiều lần trong một thời gian dài, được thừa nhận và áp dụng rộng rãi trong một vùng, miền, dân tộc, cộng đồng dân cư hoặc trong một lĩnh vực dân sự.

Trên tinh thần Nghị quyết 04/2012/NQ-HĐTP, tập quán là quy tắc xử sự được hình thành, lặp đi lặp lại nhiều lần trong một thời gian dài, được thừa nhận và áp dụng rộng rãi trong một vùng, miền, dân tộc, cộng đồng dân cư hoặc trong một lĩnh vực dân sự cụ thể.

Trong từng lĩnh vực hoặc vấn đề khác nhau, tập quán có thể được phân loại là thói quen xã hội của một cộng đồng, khu vực nơi có dân cư sinh sống trong một thời gian nhất định, hoặc có thể là thói quen được thừa nhận rộng rãi trong hoạt động thương mại trên một khu vực địa lý hoặc lĩnh vực thương mại, cũng có thể là thông lệ trong thương mại quốc tế, cách ứng xử giữa các pháp nhân thương mại được thừa nhận rộng rãi.

Điển hình, tập quán có thể là một cách quy ước của một nhóm tiểu thương và người mua hàng trong một khu chợ truyền thống, tự hiểu với nhau mà không cần có văn bản giấy tờ rằng một cân là một kg, hay một chục là 12 quả cam/táo/lê thay vì dùng một tá. Những tập quán này không được quy định cụ thể mà trở thành công thức, quy định, cách hiểu được lưu truyền nhiều đời, thông thường qua hình thức truyền miệng.

Một trong các tranh chấp dân sự phổ biến thường được áp dụng tập quán để giải quyết là tranh chấp về địa giới bất động sản. Khoản 1 Điều 175 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định ranh giới giữa các bất động sản liền kề có thể được xác định theo tập quán hoặc theo ranh giới đã tồn tại từ 30 năm trở lên mà không có tranh chấp trong trường hợp không có thỏa thuận hoặc quyết định của cơ quan có thẩm quyền.

Theo đó, tại các địa phương như thôn, quê, vùng sâu vùng xa không có địa giới rõ ràng, việc giải quyết tranh chấp sẽ được áp dụng theo tập quán của địa phương đó nếu nơi đó có tập quán liên quan về việc xác định và giải quyết tranh chấp về đất đai, bất động sản.

Một ví dụ khác là khi có mâu thuẫn vợ chồng về việc xác định họ cho con cái của họ, khoản 2 Điều 26 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định họ của cá nhân được xác định là họ của cha đẻ hoặc họ của mẹ đẻ theo thỏa thuận của cha mẹ, nếu không có thỏa thuận thì họ của con được xác định theo tập quán. Qua đó,nếu tại cộng đồng hai cha mẹ sinh sống có truyền thống đặt họ con theo cha thì tập quán này sẽ được áp dụng.

Ngược lại, một số tập quán dù đã tồn tại lâu đời cũng sẽ không được Tòa án công nhận, bãi bỏ nếu nó trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật, đạo đức xã hội, không còn phù hợp với sự thay đổi của xã hội và pháp luật theo quy định của Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP.

Điển hình, trong một số khu vực đồng bào dân tộc thiểu số cực đoan về mẫu hệ có tập tục là người con gái mặc định là người thừa kế di sản của cha mẹ nếu không có thỏa thuận khác giữa các bên như di chúc, di ngôn. Tuy nhiên, nếu viện dẫn tập quán đó trong tranh chấp về di sản thừa kế với các người con trai khác trong gia đình thì Tòa án sẽ bác bỏ lập luận này do đây là tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình, được Chính phủ chủ trương xóa bỏ.

Khi yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp các bên không có thỏa thuận và pháp luật không quy định thì đương sự có quyền viện dẫn tập quán để yêu cầu Tòa án xem xét áp dụng. Tòa án có trách nhiệm xác định giá trị áp dụng của tập quán bảo đảm đúng quy định tại Điều 5 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Ngoài ra, luật còn có quy định trường hợp các đương sự viện dẫn các tập quán khác nhau thì tập quán có giá trị áp dụng là tập quán được thừa nhận tại nơi phát sinh vụ việc dân sự. Tuy nhiên, quy định này hiện nay còn thiếu căn cứ và chưa có tính áp dụng thực tiễn cao.

Trong giao dịch dân sự thì sự tự do, tự nguyện thỏa thuận giữa các bên luôn được pháp luật khuyến khích và thừa nhận, miễn chúng không trái với điều cấm hoặc các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự. Chính vì vậy mà để thay đổi, ứng phó kịp thời với sự đổi thay liên tục của các giao dịch dân sự liên tục phát sinh, việc thừa nhận và áp dụng các tập quán trong giao dịch dân sự sẽ giúp phòng ngừa, hạn chế tranh chấp xảy ra.

Áp dụng tương tự pháp luật để giải quyết vụ việc dân sự không có điều luật quy định

Trong trường hợp không có điều luật giải quyết, thỏa thuận giữa các bên cũng như tập quán để áp dụng, Tòa án sẽ áp dụng tương tự pháp luật để giải quyết vụ việc dân sự theo quy định tại Điều 5 Bộ luật dân sự năm 2015 và khoản 1 Điều 45 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Khi áp dụng tương tự pháp luật, Tòa án phải xác định rõ tính chất pháp lý của vụ việc dân sự, xác định rõ ràng trong hệ thống pháp luật hiện hành không có quy phạm pháp luật nào điều chỉnh quan hệ đó và xác định quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự tương tự.

Theo đó, việc áp dụng tương tự pháp luật để giải quyết vụ việc dân sự là phương thức giải quyết mang tính chất tạm thời nhằm khắc phục, bù đắp sự thiếu thốn của hệ thống pháp luật hiện hành, dựa trên cơ sở quy phạm pháp luật điều chỉnh vụ việc khác có nội dung giống hoặc tương tự vụ tranh chấp đang cần giải quyết hoặc trên cơ sở các nguyên tắc pháp luật chung.

Điển hình, nếu một luật, bộ luật của Việt Nam chưa có quy định cụ thể về một vấn đề nào đó như chỉ có quy định về trường hợp xử lý người gây ra thiệt hại về tài sản mà không/chưa có quy định hoặc chưa có quy định rõ ràng, chi tiết về việc xử lý người xúi giục, tác động gián tiếp đến hành vi của người gây ra thiệt hại đó thì Tòa án sẽ áp dụng tương tự pháp luật để giải quyết.

Trong quá trình xây dựng hệ thống pháp luật, đặc biệt ở các quốc gia theo hệ thống Dân luật, các nhà làm luật luôn cố gắng xây dựng một bộ luật bao quát mọi trường hợp hoặc khả năng xảy ra tranh chấp. Tuy nhiên, việc dự đoán hoặc liệt kê đầy đủ tất cả các trường hợp là điều không thể. Hiện nay, các nhà làm luật vẫn đang gấp rút xây dựng, hoàn thiện các bộ luật liên quan đến lĩnh vực không gian mạng, xử lý tranh chấp trực tuyến, lừa đảo kỹ thuật số, các vụ tranh chấp không xác định được đương sự,…

Điển hình, khi Quốc hội Việt Nam soạn thảo và ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 số 17-LCT/HĐNN7 thì chưa có quy định về xử lý hành vi đua xe trái phép gây hậu quả nghiêm trọng vì thời điểm đó, Việt Nam chưa có khả năng xảy ra các vụ việc đó. Tuy nhiên, khi công nghệ phát triển, vi phạm về đua xe đã ngày càng phổ biến khi người dân có thể tiếp cận các phương tiện di chuyển tiên tiến dễ dàng, khiến việc áp dụng tương tự pháp luật không đủ chi tiết đã không còn phù hợp, dẫn đến việc cần có quy định cụ thể về từng loại hành vi đua xe trái phép cũng như mức xử phạt dựa trên thiệt hại gây ra.

Tuy nhiên, tại thời điểm chưa có quy định chi tiết, khi cần ngay lập tức giải quyết các trường hợp này để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các bên thì Tòa án sẽ phải giải quyết bằng cách áp dụng tương tự pháp luật.

Ngoài ra, cần lưu ý rằng việc áp dụng tương tự pháp luật chỉ có thể áp dụng để giải quyết tranh chấp dân sự vì tính linh hoạt của lĩnh vực này. Điều này là vì theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 số 100/2015/QH13, một hành vi chỉ bị coi là tội phạm khi Bộ luật hình sự quy định. Nếu không có quy phạm pháp luật hình sự điều chỉnh thì hành vi đó không được coi là tội phạm.

Trách nhiệm hình sự là trách nhiệm pháp lý nặng nề và nghiêm khắc nhất của pháp luật Việt Nam. Tính luật định là tôn chỉ và nguyên tắc quan trọng nhất của pháp luật hình sự. Nếu các tội hình sự có thể được áp dụng tương tự pháp luật để giải quyết sẽ làm giảm đi giá trị của tính luật định, hạ thấp tính pháp chế, giảm đi sự uy nghiêm của hệ thống tư pháp.

Áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ, lẽ công bằng để giải quyết vụ việc dân sự không có điều luật quy định

Trong trường hợp không có điều luật quy định giải quyết tranh chấp dân sự, không có tập quán hoặc tương tự pháp luật để áp dụng thì Tòa án áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ, lẽ công bằng để giải quyết vụ việc.

Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự là năm nguyên tắc được quy định tại Điều 3 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Theo quy định tại khoản 3 Điều 45 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, lẽ công bằng được xác định trên cơ sở lẽ phải được mọi người trong xã hội thừa nhận, phù hợp với nguyên tắc nhân đạo, không thiên vị và bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của các đương sự trong vụ việc dân sự đó.

Tuy nhiên, quy định áp dụng lẽ công bằng trong giải quyết vụ việc dân sự hiện vẫn còn sơ sài, thiếu cơ sở. Kể từ khi Bộ luật dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành, hiện vẫn chưa có bất kỳ văn bản hướng dẫn nào liên quan đến việc áp dụng lẽ công bằng làm cơ sở pháp lý để giải quyết tranh chấp, dẫn đến tình trạng hiện tại vẫn chưa có một vụ việc dân sự nào được giải quyết thông qua việc áp dụng lẽ công bằng.

Dẫu việc ghi nhận phương thức giải quyết tranh chấp dân sự thông qua việc áp dụng lẽ công bằng là sự tiến bộ trong hoạt động lập pháp nhưng việc chỉ dừng lại ở mức quy định mang tính định hướng là chưa đủ để có tính khả thi trong thực tiễn áp dụng.

Ngược lại, việc quy định Tòa án sẽ giải quyết tranh chấp qua án lệ là một định hướng có tính thực tiễn cao. Án lệ được Tòa án nghiên cứu, áp dụng trong giải quyết vụ việc dân sự khi đã được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao lựa chọn và được Chánh án Tòa án nhân dân tối cao công bố.

Án lệ là một yếu tố quan trọng trong hệ thống thông luật của các quốc gia phương Tây, có xuất phát từ nước Anh gần một thiên niên kỉ trước. Các thẩm phán thời đó tạo ra một hệ thống pháp luật chung dựa trên các tập tục áp dụng trên toàn quốc và các phán quyết của nhà vua, ít khi được viết thành văn bản chính thức.

Dẫu hệ thống thông luật sau nhiều năm phát triển cũng xây dựng nên một hệ thống văn bản pháp luật chính thức, song các án lệ vẫn đóng vai trò là nguồn quan trọng nhất của luật pháp. Khi giải quyết tranh chấp dân sự, Tòa án sẽ dựa vào các án lệ trước đây có tính chất tương tự với vụ việc cần giải quyết để ban hành quyết định.

Trong hệ thống thông luật, bộ phận tư pháp đóng vai trò rất quan trọng trong việc phát triển hệ thống pháp luật thông qua việc ban hành các án lệ, tiền lệ tư pháp thay vì tập trung vào việc xây dựng các văn bản luật. Các Tòa án cấp thấp có xu hướng tuân theo án lệ do Tòa án cấp cao hơn ban hành trong các vụ việc tương tự.

Tại Việt Nam, án lệ được Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao lựa chọn và được Chánh án Tòa án nhân dân Tối cao công bố là án lệ để các Tòa án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử theo quy định tại Điều 1, Điều 2 Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP.

Án lệ được lựa chọn phải đáp ứng các tiêu chí về tính chuẩn mực, có giá trị hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử, bảo đảm những vụ việc có tình tiết sự kiện pháp lý như nhau thì phải giải quyết như nhau; chứa đựng  lập luận để làm rõ quy định của pháp luật còn có cách hiểu khác nhau; phân tích, giải thích các vấn đề, sự kiện pháp lý và chỉ ra các nguyên tắc, đường lối xử lý, quy phạm pháp luật cần áp dụng trong một vụ việc cụ thể.

Dẫu vậy, do thuộc hệ thống dân luật nên án lệ có vai trò hạn chế hơn nhiều so với các văn bản quy phạm pháp luật. Điển hình, theo như nguyên tắc giải quyết khi không có điều luật giải quyết tại Việt Nam, án lệ cùng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, lẽ công bằng là phương thức áp dụng sau cùng khi không có điều luật, không có tập quán và không có tương tự pháp luật để áp dụng.

Trong một vụ tranh chấp dân sự thông thường có pháp luật điều chỉnh, án lệ thường chỉ đóng vai trò tham khảo tương đối, không mang tính ràng buộc.

Về tính chất, hệ thống dân luật và thông luật đều có những điểm đặc biệt riêng, trải qua nhiều năm sửa đổi, tinh chỉnh và vẫn tồn tại đến ngày nay đã thể hiện tính hiệu quả của hai hệ thống luật này.

Hệ thống thông luật có thể có sự linh hoạt hơn, có khả năng thích nghi tốt hơn với các biến động của xã hội mà không cần chờ các bản sửa đổi, bổ sung tiếp theo của các luật, bộ luật để có thể ban hành các quyết định kịp thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự. Dẫu vậy, việc có nhiều án lệ khác nhau dễ nảy sinh khả năng mâu thuẫn, chồng chéo án lệ, tạo thêm gánh nặng cho hệ thống tư pháp và các đơn vị luật trong quá trình tố tụng.

Ngược lại, hệ thống dân luật của Việt Nam có hệ thống luật và bộ luật mang tính bao trùm phần lớn các trường hợp, có sự ổn định và công bằng, minh bạch hơn khi các đạo luật được ban hành công khai, không chịu sự chi phối hoặc điều chỉnh bởi một án lệ nào.

Trên thực tiễn áp dụng, phần lớn các quốc gia và vùng lãnh thổ hiện nay đều triển khai áp dụng song hành hai hệ thống luật, dù vẫn có xu hướng nghiêng về một hệ thống chính. Tuy nhiên, có thể nhận định rằng trong tương lai, khoảng cách giữa việc áp dụng thông luật hay dân luật sẽ ngày càng được thu hẹp, tạo nên một hệ thống duy nhất nơi các văn bản quy phạm pháp luật đóng vai trò là khung pháp lý còn các án lệ, tiền lệ sẽ đóng vai trò là các trường hợp ngoại lệ cần chú ý, xem xét trong việc ban hành quyết định khi chưa có điều luật chi tiết quy định phương pháp giải quyết.

ASL Law là công ty luật độc lập và cung cấp đầy đủ dịch vụ được tín nhiệm cao của Việt Nam gồm các luật sư giàu kinh nghiệm và tài năng. ASL Law được Legal500, Asia Law, WTR và Asia Business Law Journal. xếp hạng là Công ty Luật hàng đầu tại Việt Nam. Có trụ sở tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, mục đích chính của ASL LAW là cung cấp lời tư vấn và giải pháp lý thiết thực, hiệu quả và hợp pháp nhất cho khách hàng trong nước và quốc tế. Nếu cần sự trợ giúp, Quý khách hàng có thể gửi email liên hệ tới info@aslgate.com.

Liên hệ với công ty Luật ASL LAW để được tư vấn về tranh tụng và giải quyết tranh chấp.

BÀI VIẾT HỮU ÍCH LIÊN QUAN

Đại diện sở hữu trí tuệDịch vụ đăng ký nhãn hiệu
Đăng ký nhãn hiệuDịch vụ đăng ký nhãn hiệu quốc tế
Đăng ký nhãn hiệu quốc tếĐăng ký nhãn hiệu tại Việt Nam
Đăng ký thương hiệu quốc tếQuy trình đăng ký nhãn hiệu tại Việt Nam
Thủ tục đăng ký nhãn hiệuQuy trình đăng ký nhãn hiệu
Đăng ký nhãn hiệu như thế nàoThủ tục đăng ký nhãn hiệu hàng hoá
Cách thức đăng ký nhãn hiệuDịch vụ đăng ký nhãn hiệu hàng hoá
Đăng ký nhãn hiệu hàng hoáDịch vụ bảo hộ nhãn hiệu
Cách thức đăng ký nhãn hiệu hàng hoáDịch vụ đăng ký nhãn hiệu độc quyền
Thủ tục đăng ký nhãn hiệu độc quyềnĐăng ký nhãn hiệu hàng hoá độc quyền
Đăng ký nhãn hiệu độc quyềnThủ tục đăng ký nhãn hiệu hàng hoá độc quyền
Đăng ký nhãn hiệu công ty như thế nàoĐăng ký nhãn hiệu độc quyền như thế nào
Đăng ký nhãn hiệu mớiĐăng ký thương hiệu độc quyền ở đâu
Tư vấn đăng ký nhãn hiệuLuật sư sở hữu trí tuệ
Đăng ký nhãn hiệu công tyĐăng ký nhãn hiệu logo
Đăng ký sáng chếDịch Vụ đăng ký sáng chế
Đăng ký độc quyền sáng chếĐăng ký bản quyền tác giả
Đăng ký bản quyền phần mềmThủ tục đăng ký bản quyền
Đăng ký bản quyềnĐăng ký bản quyền bài hát
Công ty Luật sở hữu trí tuệĐại diện sở hữu trí tuệ
***Dịch Vụ pháp lý khác của Công ty Luật ASL LAW***
Dịch vụ pháp lý thuê ngoài cho doanh nghiệp và StartupĐăng ký nhãn hiệu quốc tế
Tư vấn đầu tư ra nước ngoài cho doanh nghiệp Việt NamĐăng ký sáng chế
Tư vấn đầu tư tại Việt Nam cho doanh nghiệp nước ngoài kinh doanh tai Việt NamTư vấn Mua bán sáp nhập doanh nghiệp (M&A)
Mở công ty tại Việt NamTư vấn tài Chính – Ngân hàng
Mở văn phòng đại diện tại Việt NamDịch vụ Soạn thảo hợp đồng
Dịch vụ sở hữu trí tuệPháp lý về lao động và việc làm
Đăng ký nhãn hiệu tại Việt NamTư vấn giải quyết tranh chấp
Đăng ký bản quyềnTư vấn nhượng quyền thương mại
Contact Me on Zalo
+84366667697
WhatsApp chat